• Join over 1.2 million students every month
  • Accelerate your learning by 29%
  • Unlimited access from just £6.99 per month
Page
  1. 1
    1
  2. 2
    2
  3. 3
    3
  4. 4
    4
  5. 5
    5
  6. 6
    6
  7. 7
    7
  8. 8
    8
  9. 9
    9
  10. 10
    10
  11. 11
    11
  12. 12
    12
  13. 13
    13
  14. 14
    14
  15. 15
    15
  16. 16
    16
  17. 17
    17
  18. 18
    18
  19. 19
    19
  20. 20
    20
  21. 21
    21
  22. 22
    22
  23. 23
    23
  24. 24
    24
  25. 25
    25
  26. 26
    26
  27. 27
    27
  28. 28
    28
  29. 29
    29
  30. 30
    30
  31. 31
    31
  32. 32
    32
  33. 33
    33
  34. 34
    34
  35. 35
    35
  36. 36
    36
  37. 37
    37
  38. 38
    38
  39. 39
    39
  40. 40
    40
  41. 41
    41
  42. 42
    42
  43. 43
    43
  44. 44
    44
  45. 45
    45
  46. 46
    46
  47. 47
    47
  48. 48
    48
  49. 49
    49
  50. 50
    50
  51. 51
    51
  52. 52
    52
  53. 53
    53
  54. 54
    54
  55. 55
    55
  56. 56
    56
  57. 57
    57
  58. 58
    58
  59. 59
    59
  60. 60
    60
  61. 61
    61
  62. 62
    62
  63. 63
    63
  64. 64
    64
  65. 65
    65
  66. 66
    66
  67. 67
    67
  68. 68
    68

Chien luoc TCL

Free essay example:

Bài tập nhóm quản trị chiến lược                GVHD: TS.Nguyễn Xuân Lãn

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

image00.jpg

image01.png

BÀI TẬP NHÓM MÔN

QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC

ÑEÀ TAØI:

image05.png

        Giáo viên hướng dẫn   :        TS. Nguyễn Xuân Lãn

 Nhóm SVTH        :        Nhóm 05 lớp 06

  • Nguyễn Đức Phúc  33k08
  • Đỗ Minh Tuấn       34k08
  • Bùi Thị Hằng         34k02.2
  • Hà Tấn Tuấn         34k02.2

MỤC LỤC

I.GIỚI THIỆU VỀ TẬP ĐOÀN TCL:

I.1. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN:

I.2. THỊ TRƯỜNG:

I.3. SẢN PHẨM CÔNG TY:

II. VIỄN CẢNH VÀ SỨ MỆNH CỦA TCL:

II.1. VIỄN CẢNH:

II.2. SỨ MỆNH:

III. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI:

III.1. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ:

III.1.1. Môi trường kinh tế

III.1.2. Môi trường nhân khẩu học:

III.1.3. Môi trường văn hóa xã hội:

III.1.4. Môi trường công nghệ:

III.1.5. Môi trường chính trị:

III.1.6. Môi trường toàn cầu :

III.2. PHÂN TÍCH NGÀNH VÀ CẠNH TRANH:

III.2.1. Năm lực lượng cạnh tranh:

III.3. Trạng thái của ngành :

III.4. Phân tích  nhóm chiến lược:

III.5. Các nhân tố then chốt dẫn đến thành công :

III.5.1. Tốc độ cải tiến cao:

III.5.2. Quản trị rủi ro trong kinh doanh:

III.5.3. Tuân thủ các qui định:

III.5.4. Thiết lập các xu hướng mới:

IV. MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG:

IV.1. CÁC KHỐI CƠ BẢN CỦA LỢI THẾ CẠNH TRANH:

IV.1.1. Hiệu quả vượt trội

IV.1.2. Cải tiến vượt trội

IV.1.3. Đáp ứng khách hàng

IV.2. CÁC NGUỒN LỰC VÀ KHẢ NĂNG TIỀM TÀNG:

IV.2.1. Các nguồn lực:

IV.2.2. Năng lực cốt lõi:

V. CHIẾN LƯỢC CÔNG TY:

V.1. Hội nhập dọc:

V.2. Đa dạng hóa :

V.3. Chiến lược cải tổ hay tái cầu trúc :

V.4. Chiến lược liên minh

VI. CHIẾN LƯỢC TRONG MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU:

VI.1. SỨC ÉP GIẢM CHI PHÍ VÀ SỨC ÉP TỪ ĐỊA PHƯƠNG:

VI.1.1. Sức ép giảm chi phí:

VI.1.2. Sức ép từ địa phương:

VI.2. LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC:

VI.3. CÁC CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG:

VII. CHIẾN LƯỢC CẤP KINH DOANH:

VII.1. NHU CẦU KHÁCH HÀNG VÀ SỰ KHÁC BIỆT SẢN PHẨM:

VII.2. PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU:

VII.3. HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CẤP KINH DOANH:

VII.3.1. Mua lại-sáp nhập:

VII.3.2. Thực hiện đa nhãn hiệu:

VII.4. CHIẾN LƯỢC CÁC SBU:

VII.4.1. Tivi LCD

VII.4.2. Điện thoại di động

VII.4.3. Thiết bị gia dụng

VIII. CÁC CHIẾN LƯỢC CHỨC NĂNG

VIII.1. CHIẾN LƯỢC NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN:

VIII.2. CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT

VIII.3. CHIẾN LƯỢC MARKETING VÀ BÁN HÀNG :

VIII.4. CHIẾN LƯỢC VỀ NGUỐN NHÂN LỰC

PHẦN KẾT LUẬN

I.GIỚI THIỆU VỀ TẬP ĐOÀN TCL:image06.jpg

        Thành lập vào năm 1981 tại Huệ Châu Trung Quốc, Tổng công ty TCL - chủ sở hữu hãng chế tạo TV màu lớn nhất thế giới của TCL-Thomson Electronics , và cũng là chủ sở hữu một hãng chế tạo sản phẩm truyền thông xách tay đẳng cấp thế giới - TCL Công nghệ Truyền thông, là một trong các tập đoàn điện tử tiêu dùng lớn nhất ở Trung Quốc. Với một tỷ lệ tăng trưởng phức hợp hằng năm 42.65% trong 12 năm từ các năm 1990, Tổng công ty TCL là một trong những doanh nghiệp Trung Quốc dẫn đầu về công nghệ thông tin ngày nay.

        Tổng công ty TCL bao gồm bốn bộ phận kinh doanh - đa phương tiện, truyền thông, thiết bị gia dụng và thiết bị điện tử.  Nó cũng có hai lĩnh vực kinh doanh trực thuộc: Bất động sản, đầu tư và dịch vụ vận tải.  TCL là một trong những nhà sản xuất hàng đầu thế giới của TV màn hình phẳng, đầu DVD, điều hòa không khí và điện thoại di động GSM, CDMA.

image07.png

  1.  CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN:

  • Giai đoạn 1980-1984:

Năm 1981, Hiệp hội Thiết bị gia dụng TTK, một liên doanh với nhà đầu tư từ Hồng Kông, được thành lập vào Huệ Châu, ở tỉnh Quảng Đông.  Một trong số 12 liên doanh đầu tiên tại Trung Quốc, nó chủ yếu là sản xuất băng.  Đó là công ty nhỏ mà hiện nay là Tập đoàn TCL khổng lồ, lợi nhuận hàng năm gần 30 tỷ nhân dân tệ, hoặc 3 tỷ euro.

  • Giai đoạn 1985-1989:

        Năm 1985 TCL tiếp tục liên doanh với 1 số nhà đầu tư của Hồng Kông để thành lập Công ty TNHH Thiết bị Thông tin. Đến năm 1989 TCL là công ty đứng đầu về doanh số bán hàng điện thoại so với các công ty khác Trung Quốc và vị trí đó được TCL tiếp tục duy trì cho đến ngày nay.

  • Giai đoạn 1990-1994:

Năm 1992 TCL ra mắt sản phẩm màn hình Tivi màu và đã rất thành công ở thị trường trong nước. Tiếp theo thành công đó năm 1993 TCL mở rộng sự hiện diện của mình vào thị trường linh kiện điện tử với việc thành lập công ty Điện gia dụng quốc tế TCL  có trụ sở ở Huệ Châu – Trung Quốc. TCL mở rộng sang thị trường Hồng Kông bằng việc thành lập công ty điện tử TCL qua đó là bàn đạp để TCL vươn ra thị trường khu vực và thế giới. Nsăm 1994 TCL được xem là một trong những công ty tiên phong trong việc sản xuất các loại điện thoại không dây ở Trung Quốc.  Thương hiệu TCL trở nên phổ biến nhanh chóng trong thị trường Trung Quốc.

  • Giai đoạn 1995-1999:

        Năm 1996 Ông Li Dongsheng được bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị của TCL, ông là người có công rất lớn trong việc xây dựng và phát triển tập đoàn TCL. Năm 1997 cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á đã làm cho công ty bị thiệt hại rất lớn, lợi nhuận suy giảm đáng kể.  Để giảm thiệt hại do cuộc khảng hoảng tiền tệ năm 2007 và tăng lợi thế cạnh tranh TCL đã kí với ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc một hiệp định ủy quyền xuất khẩu trọn gói, trong đó ngân hàng sẽ hỗ trợ tài chính cho TCL giúp công ty có thể tăng khả năng cạnh tranh và xâm nhập các thị trường mới.

  • Giai đoạn 2000-2004:

        Năm 2002 TCL xếp thứ 6 trong số các thương hiệu giá trị nhất tại Trung Quốc với giá trị thương hiệu 18,8 tỉ RMB. Cùng năm này TCL đưa vào hoạt động nhà máy Schneider Electric tại Munich ( Đức). Đây là bước tạo đà quan trọng giúp TCL thâm nhập vào thị trường Nga và Châu Âu. Đến năm 2003 TCL thu mua và sáp nhập với hãng điện tử Thomson và Alcatel của Pháp đã góp phần đưa TCL trở thành một trong những thương hiệu có tính cạnh tranh trên toàn thế giới. Minh chứng cho điều đó là vào năm 2004 TCL được coi là một trong những công ty truyền hình màu lớn nhất thế giới.

  • Giai đoạn 2005-2010:

        Năm 2005 TCL đứng đầu thế giới về sản lượng TV được tiêu thụ, cũng  trong năm này TCL đã kí với tập đoàn Toshiba biên bản gi nhớ thành lập công ty chuyên sản xuất các thiết bị da dụng như tủ lạnh, máy giặt. Năm 2008 với mức tăng trưởng doanh số một cách ấn tượng (doanh số 6 tháng đầu năm 2008 của TCL lên đến 2,72 tỉ USD. Với gần 7 triệu chiếc TV trên toàn thế giới) TCL đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường TV LCD toàn cầu. Trong lĩnh vực TV CRT, hiện TCL đang chiếm 12,8% thị phần toàn cầu và là nhà sản xuất TV CRT có doanh số lớn thứ 2 trên thế giới. Năm 2010 TCL cho ra hàng loạt sản phẩm công nghệ cao với tính năng vượt trội như tivi LCD 3D, Health LED TV, góp phần vào việc gia tăng doanh số và lợi nhuận của TCL 1 cách đáng kể.

  1. THỊ TRƯỜNG:

        TCL cung cấp cho hơn 100 triệu người tiêu dùng trên khắp thế giới với các sản phẩm điện tử tiêu dùng như TV màu, điện thoại di động, điện thoại, máy tính, máy điều hoà không khí, tủ lạnh, và máy giặt.

        Công ty áp dụng chiến lược đa nhãn hàng , theo đó công ty quảng cáo sản phẩm của mình theo 4 nhãn hiệu khác nhau đó là : TCL, ROWA, THOMAS, RCA với mạng lưới bán hàng trên khắp thế giới. Được chia tùy theo đặc tính sản phẩm và theo tuyến địa lí, Công ty có 4 trung tâm linh doanh, đó là Trung Quốc, Bắc Mĩ, Châu Âu và các Thị trường mới nổi, và ba bộ phận kinh doanh đó là ROWA, Home Networking, và Home Imaging là một công ty mẹ niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hông Kông với các chi nhánh hoạt động trên khắp thế giới.

  1. SẢN PHẨM CÔNG TY:

  •    TV LED.
  •    LCD.                         
  • TV đèn hình.        
  • Máy lạnh.
  • Telephone, Mobile.
  • ADSL
  • Digital Camera.        
  • DVD.
  • Các sản phẩm gia dụng : tủ lạnh ,máy giặc, quạt,máy lọc không khí, nồi cơm điện,loa âm thanh…..
  • Led light.        

Trích nguồn www.TCL.vn

  1. VIỄN CẢNH VÀ SỨ MỆNH CỦA TCL:

  1. VIỄN CẢNH:

Liên tục đổi mới và tạo những bước nhảy vọt” – “Make the Leap through Constant Innovation”.

Tư tưởng cốt lõi:

                “Dám là người đầu tiên”

        Sự thịnh vượng của một đất nước dựa vào sự thịnh vượng của các doanh nghiệp quốc gia.  Được thành lập vào thời kì đầu của Trung Quốc trong giai đoạn cải cách và mở cửa, TCL là một nhà tiên phong.  Là một trong những doanh nghiệp toàn cầu hóa đầu tiên của Trung Quốc, TCL đã khám phá ra một con đường không được bước trước bởi các thương hiệu Trung Quốc, mà không có bản đồ hoặc tài liệu tham khảo.

  • Giá trị cốt lõi :
  • Năng lực thiết kế: Đảm bảo chất lượng cũng như khả năng tiếp thị đảm bảo cho TCL trở thành một trong những nhà sáng tạo và được tôn trọng trong các doanh nghiệp toàn cầu. Nhân viên: Sự tận tâm, chính trực, tinh thần làm việc theo nhóm và luôn học hỏi để đổi mới.
  • Tinh thần của công ty: Tính toàn vẹn và trách nhiệm, sự công bằng và công lý, cách mạng và đổi mới, sự thống nhất của kiến thức và thực hành, uy thế tối cao của công ty.
  • Mục đích cốt lõi:

“Đổi mới để tồn tại”

 Nếu nỗ lực của TCL trong vài năm qua đã được xem như là một sự thích nghi thụ động bởi các tác động và thách thức của toàn cầu hóa, từ bây giờ, TCL chủ động lên kế hoạch cho mục tiêu phát triển quốc tế .  Điều này mới chỉ bắt đầu trong lịch sử, ban lãnh đạo công ty TCL cam kết xây dựng TCL thành một công ty cạnh tranh trên toàn cầu.

Hình dung tương lai:

“Top 10 toàn cầu trong 10 năm

        Tổng công ty TCL theo đuổi tầm nhìn thế kỷ 21 nó trở thành công ty điện tử toàn cầu mà có thể làm cho khách hàng trên toàn thế giới hạnh phúc thông qua các sản phẩm sáng tạo kỹ thuật số và dịch vụ của mình. Hơn 10 năm sau, TCL cam kết không ngừng nâng cao năng lực toàn cầu, tăng cường đổi mới và sở hữu trí tuệ để trở thành một trong những doanh nghiệp sáng tạo và tôn trọng các doanh nghiệp toàn cầu.

  1. SỨ MỆNH:

“Tạo ra giá trị cho khách hàng, tạo cơ hội cho nhân viên, tạo ra lợi ích cho cổ đông và tham gia vào các trách nhiệm xã hội.”

To create value for our customers, create opportunities for employees, create benefits for shareholders and engage in corporate social responsibility”.

  • Nguyên tắc hướng dẫn:

        Danh tiếng của TCL được xây dựng trên chất lượng sản phẩm và dịch vụ của mình. TCL cam kết là công ty công nghệ kỹ thuật số của tương lai và đầu tư đáng kể vào sự phát triển tương ứng với nhu cầu thị trường.

  • Đối với khách hàng: TCL chú trọng mang lại các giá trị cho khách hàng thông qua chất lượng sản phẩm, dịch vụ tạo cho họ sự hài lòng cao nhất về sản phẩm.
  • Đối với nhân viên: TCL luôn quan tâm và tạo cho nhân viên cơ hội học tập, thăng tiến và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, cạnh tranh lành mạnh.
  • Đối với các cổ đông: Công ty cam kết đạt chỉ tiêu lợi nhuận và không ngừng thỏa mãn yêu cầu của các cổ đông về hiệu quả quản lý, điều hành.
  • Đối với cộng đồng: TCL không ngừng nổ lực tham gia các hoạt động xã hội, cam kết bảo vệ môi trường trong các hoạt động kinh doanh của mình, làm tốt nghĩa vụ của một công dân doanh nghiệp toàn cầu.
  1. MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI:

  1. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ:

  1. Môi trường kinh tế

  • Tăng trưởng GDP:

image08.png

Xu hướng GDP từ năm 1952 đến năm 2005 của Trung Quốc.

        Kể từ thực hiện cải cách mở cửa năm 1978, Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế – xã hội. GDP tăng trưởng bình quân hàng năm của Trung Quốc đạt 9,8%. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm gần đây đạt mức trung bình hơn 1.200 USD/năm. Tỉ lệ tiết kiệm tăng từ mức 39,2% năm 1990 lên mức 53,2 % vào năm 2008, cao hơn nhiều so với tỷ lệ 12,2% tại Mỹ năm 2008. Chỉ trong 3 thập kỷ kể từ khi mở cửa cho đầu tư nước ngoài, Trung Quốc đã vượt qua Anh, Pháp và Đức trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và mang lại cho các nước đang phát triển một tiếng nói lớn hơn tại Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).

        Năm 2008, mặc dù chịu tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng tỉ lệ tăng trưởng GDP vẫn đạt 10%, vượt Đức trở thành nền kinh tế thứ 3 thế giới; FDI đạt hơn 860 tỷ USD; dự trữ ngoại tệ đạt 1.950 tỷ USD, cao nhất thế giới. Năm 2009, những giải pháp kích cầu của Trung Quốc, bao gồm cả gói kích thích kinh tế trị giá 4.000 tỷ Nhân dân tệ được Chính phủ nước này công bố tháng 11 năm 2008, đã phát huy tác dụng. Trung Quốc tự hào vì đã đưa được khoảng nửa tỷ người ra khỏi tình trạng đói nghèo và đang dẫn dắt nền kinh tế trên đà tiếp tục phát triển. Một số chuyên gia kinh tế thậm chí còn dự báo Trung Quốc sẽ sớm bắt kịp Mỹ về mặt GDP, có thể chỉ cần tới năm 2020. GDP và thu nhập tăng sẽ nâng cao đời sống của người dân từ đó nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng điện tử sẽ có xu hướng tăng lên, tạo cơ hội cho các công ty điện tử trong việc mở rộng thị trường ,gia tăng lợi nhuận.

  • Tỷ giá hối đoái :

        Trung Quốc luôn theo đuổi chế độ tỷ giá hối đoái trên cơ sở định giá tỷ giá hối đoái thấp thực tế giữa đồng nhân dân tệ so với các ngoại tệ khác đặc biệt với đồng đô la Mỹ để tạo lợi thế thương mại ngắn hạn. Vào những năm 1980 tỷ giá giữa ñồng nhân dân tệ và đô la Mỹ đứng ở tỷ lệ 1 USD= 2 RMB, năm 1994, Trung Quốc đã phá giá mạnh đồng nhân dân tệ để đạt tới tỷ giá 1 USD = 8.5 RMB và tỷ giá mới này ñược giữ gần như cố định trong giai đoạn 1995-2005. Tỷ giá giữađồng đô la Mỹ và  Nhân dân tệ vào thời điểm này là 1 USD = 8.27 RMB        .Tỷ giá thấp giúp tạo thuận cho các doanh nghiệp trung Quốc trong việc xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường khác ,trong đó có các công ty điện tử.Hàng điện tử của các công ty Trung Quốc có lợi thế về giá hơn so với hàng của các công ty đến từ các nước khác.

image09.jpg

Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế

  • Lạm phát:

 Tỷ lệ lạm phát (CPI, 2007) 4,8% . Tỷ lệ lạm phát thấp giúp đời sống người dân ổn định tạo điều kiện để các sản phẩm điện tử được tiêu dùng nhiều hơn.

  1. Môi trường nhân khẩu học:

Trung Quốc có diện tích 9.571.300 km² gấp 29 lần diện tích Việt Nam. Từ Bắc sang Nam có chiều dài là 4000 km, từ Tây sang Đông là 5000 km, có đường biên giới với 14 quốc gia và lãnh thổ.

        Số dân nước này đã là 1.306,28 triệu người. Trung bình mỗi năm dân số Trung Quốc tăng 0,63%. Mật độ dân số khoảng (136người/km2). Tỷ lệ nam giới ở Trung Quốc chiếm 51,53% số dân. Phụ nữ chiếm 48,47%. Tỷ lệ dân thành thị và nông thôn lần lượt là 42,99% và 57,01%.

Hiện nay Trung Quốc có gần 800 triệu lao động trong đó 68 triệu lao động có bằng đại học. Lực lượng lao động Trung Quốc được xem là có nhiều tiến bộ trong những năm vừa qua, những tiến bộ đó đã nâng cao năng lực sản xuất. Người lao động được đào tạo tốt và có trình độ cao, rất nhiều cán bộ quản lý cấp cao và nhân viên kỹ thuật có kinh nghiệm quốc tế.  Môi trường có nền khoa học phát triển và đầy kỹ năng sáng tạo của đã sản sinh ra những chuyên gia tầm cỡ thế giới trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. → điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng như lĩnh vực điện tử gia dụng.

        Trung Quốc thực hiện sinh đẻ có kế hoạch, chính sách mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép đẻ một con. Sau nhiều năm thực hiện, những hậu quả của chính sách này dần dần hiện rõ, theo dự đoán của một số nhà nhân khẩu học thì bắt đầu từ năm 2012 nguy cơ về dân số trung Quốc sẽ bộc lộ toàn diện:

        Dân số Trung Quốc già nhanh, Tổng số sức lao động từ 15-64 tuổi bắt đầu giảm , trong đó sức lao động ở độ tuổi 19-22 giảm mạnh. Năm 2008 số người trên 65 tuổi ở trung Quốc đã là 110 triệu, bằng 23% thế giới và 38% châu Á. Dự kiến đến năm 2015 số người cao tuổi sẽ vượt qua mốc 200 triệu và đến năm 2020 số người ở tuổi nói trên của Trung Quốc sẽ chiếm 11,92% dân số, so với năm 2000 tăng 4,96%. Trung Quốc đang đứng trước nhiều thách thức là những gánh nặng về chính sách phúc lợi cho người già. Số người trong độ tuổi lao động giảm xuống → gây ra những khó khăn cho nền kinh tế, thách thức về nguồn lao động cho tương lai.

  1. Môi trường văn hóa xã hội:

Trung Quốc là 1 đất nước rộng lớn, với những vùng sa mạc rộng lớn,  những thảo nguyên bát ngát, những ngôi nhà cùng với những khu vườn hoa rực rỡ, những thành phố hiện đại. Đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế Trung Quốc phát triển.

Văn hóa truyền thống Trung Quốc bao gồm các vùng lãnh thổ địa lý rộng lớn, nơi mỗi khu vực thường được chia thành các nền văn hóa khác biệt.Trung Quốc là một xã hội đa ngữ, đa văn hoá với lực lượng lao động dồi dào, được đào tạo đầy đủ, có tay nghề cao.

Theo Trung tâm Thông tin Mạng Trung Quốc (CNNIC), cư dân mạng của nước này tăng tới 23,4% so với năm trước, đạt con số 137 triệu người, chiếm 10% của đất nước 1,3 tỉ dân. Chính phủ Trung Quốc khuyến khích sử dụng Internet cho các lĩnh vực giáo dục và kinh doanh, giá máy vi tính rẻ và sự phát triển mạnh mẽ của mạng không dây cũng là lý do khiến số người sử dụng Tnternet của Trung Quốc tăng nhanh. Trung Quốc hiện có 461 triệu người sử dụng ĐTDĐ với khoảng 17 triệu người online qua ĐTDĐ và con số này ngày càng tăng.➔ đây thật sự là một thị trường lớn cho các công ty điện tử và viễn thông tham gia vào.

  1. Môi trường công nghệ:

        Kể từ khi mở cửa với thế giới, khoa học và công nghệ Trung Quốc đã có những phát triển đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa bằng các nước hàng đầu trên thế giới như Mỹ ,Nhật Bản…

Trung Quốc đầu tư vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R & D) với nguồn kinh phí tăng 20% qua mỗi năm , trở thành một trong những nhà đầu tư cao nhất thế giới trong hoạt động R & D. Trung Quốc chú trọng vào các lĩnh vực internet , công nghệ 3G , và các sản phẩm kĩ thuật số như máy ảnh kĩ thuật số máy chơi game ,máy MP3. Nhiều công ty Trung Quốc đã trở thành hãng sản xuất hàng đầu thế giới về các thiết bị điện tử, chẳng hạn như TV màu, DVD, và điện thoại di động.

        Trung Quốc đã thông báo kế hoạch đầu tư 62,8 tỷ nhân dân tệ (gần 9,5 tỷ USD) từ nay đến hết năm 2010 để thúc đẩy phát triển và tạo các bước đột phá trong các ngành công nghệ then chốt. Chương trình bao gồm các dự án chế tạo máy bay và các thiết bị điều khiển số hiện đại, phát triển hệ thống thông tin điện thoại không dây băng rộng thế hệ mới, sản xuất phần mềm và ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất.

➔Chính phủ Trung Quốc hy vọng chương trình đầu tư phát triển công nghệ này sẽ giúp thúc đẩy nhu cầu của thị trường nội địa, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định của Trung Quốc. ➔ Môi trường thuận lợi cho các hãng điện tử thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.

  1. Môi trường chính trị:

  • Luật chống độc quyền:

        Luật có hiệu lực từ ngày 1-8-2008. Theo đó, các nhà đầu tư nước ngoài nếu muốn sáp nhập hoặc mua các công ty Trung Quốc phải qua hai khâu kiểm tra về chống độc quyền và an ninh quốc gia của Trung Quốc.

➔Kiểm soát nghiêm ngặt về cạnh tranh, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp và tăng cường quản lý thị trường trong nước tránh sự thâu tóm của các tập đoàn nước ngoài. Vd. Samsung hay Nokia………

  • Luật Thuế:

        Thuế là nguồn thu quan trọng nhất của Trung Quốc. Năm 2007 Trung Quốc đã thu thuế hơn 4.940 tỷ nhân dân tệ (670 tỷ đôla Mỹ). Theo hệ thống hiện hành, Trung Quốc có 26 loại thuế, tuỳ theo tính chất và chức năng chúng có thể phân ra thành 8 nhóm:

  • Thuế doanh thu: gồm 3 loại thuế, thuế GTGT, thuế tiêu thụ và thuế kinh doanh. Các loại thuế này được đánh trên doanh thu bán hàng hoá, dịch vụ.
  • Thuế thu nhập
  • Thuế tài nguyên
  • Thuế cho những mục đích đặc biệt.
  • Thuế tài sản: bao gồm thuế nhà, thuế bất động sản đô thị và thuế thừa kế (loại thuế thừa kế này chưa được áp dụng).
  • Thuế hành vi- Thuế nông nghiệp: gồm thuế nông nghiệp và thuế chăn nuôi.
  • Thuế xuất nhập khẩu: đánh vào hàng hoá xuất, nhập khẩu vào lãnh thổ Trung Quốc, bao gồm cả thuế tiêu thụ đặc biệt.

➔ Tạo 1 khoản thu quan trọng cho chính phủ và góp phần kiểm soát chặt chẻ hoạt động của các doanh nghiệp trong và ngoài nước.

  • Chính sách giáo dục:

        Trung Quốc vừa thông qua một dự án cải tổ giáo dục hứa hẹn sẽ chi nhiều ngân sách hơn, dành cho nhiều đối tượng, thu hút nhiều sinh viên nước ngoài và nâng cao chất lượng đào tạo. Ưu tiên cho phát triển giáo dục nông thôn.

  • Kế hoạch phát triển và cải cách giáo dục quốc gia trung và dài hạn (2010-2020) dự kiến đến 2012 sẽ dành 4% GDP cho ngân sách giáo dục. Cam kết thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn bằng cách xây thêm trường học, đào tạo thêm giáo viên và tăng chỉ tiêu tuyển sinh đại học cho học sinh vùng nông thôn, vùng kém phát triển kinh tế hay các khu vực sắc tộc thiểu số.
  • Đến năm 2020 mọi công dân sẽ được phổ cập tiểu học, ít nhất 90% học sinh cấp II sẽ học tiếp cấp III, và hơn 40% học sinh tốt nghiệp trung học sẽ học tiếp đại học.
  • Nhận thêm sinh viên nước ngoài và tăng học bổng du học.Nhiều đại học Trung Quốc đã liên kết với các đại học hàng đầu của Mỹ như Harvard, Standford, Yale… để cho sinh viên Bắc Kinh có nhiều cơ hội học tập tốt hơn thông qua các chương trình trao đổi du học sinh. Theo thống kê của Bộ Giáo dục Trung Quốc, năm 2009 đã có 240.000 sinh viên từ 190 quốc gia và khu vực đến du học ở các đại học khắp Trung Quốc. Số học bổng dành cho sinh viên Trung Quốc đi du học của Chính phủ nước này cũng tăng thêm. Hiện đang có khoảng 100.000 sinh viên Trung Quốc du học tại Mỹ, gấp 5 lần số sinh viên Mỹ du học ở Trung Quốc.

➔ Nâng cao trình độ học vấn cho người dân góp phần đào tạo, thu hút   nguồn nhân lực có trình độ và tay nghề cao → Để đáp ứng được tình hình mới của phát triển thị trường hoá toàn cầu, của kỹ thuật cao với những tiến bộ rất nhanh chóng.

          Môi trường chính trị – luật pháp ở Trung Quốc rất ổn định và đầy đủ, tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh và phát triển bền vững.

  1. Môi trường toàn cầu :

Do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ quốc tế, năm 2009 kinh tế thế giới giảm sút toàn diện, đặc biệt là trong nửa đầu năm kinh tế của các nước phát triển trải qua một cuộc suy thoái nghiêm trọng nhất kể từ những năm 30 của thế kỷ trước đến nay. Cùng với sự ổn định về tiền tệ, thực hiện kế hoạch kích thích kinh tế của các nước, đến nửa cuối năm 2009 thị trường tiền tệ quốc tế dần ổn định trở lại, tiêu dùng và đầu tư hồi phục với tốc độ chậm, kinh tế tụt dốc giảm tốc độ và bắt đầu hồi sinh. Theo số liệu mới nhất của Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF), năm 2009 kinh tế thế giới năm giảm 0,6% và đồng thời cho rằng, thời kỳ khó khăn nhất của kinh tế thế giới đã qua đi, thị trường vốn của các quốc gia chủ yếu đã dần dần ổn định trở lại, công nghiệp chế tạo đã bắt đầu hồi phục tăng trưởng, thương mại XNK đã tăng rõ nét, dự kiến trong năm 2010 kinh tế thế giới sẽ hồi phục tăng trưởng, tốc độ đạt 4,2%, trong đó tăng trưởng của các nước phát triển là 2,3%, còn thị trưởng mới nổi và các nước đang phát triển là 6,3%. Đến năm 2011, dự kiến tăng trưởng của kinh tế thế giới đạt 4,3%, trong đó các nước phát triển đạt 2,4% , còn thị trường mới nổi và các nước đang phát triển là 6,5%.➔ Kinh tế suy thoái đã gây tác động xấu cho các công ty điện tử trong việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm , riêng công ty TCL đã bị giảm lợi nhuận trong những quý đầu năm 2010 ,tuy nhiên với việc phục hồi trong thời gian gần đây nó mang lại những dấu hiệu tích cực cho doanh nghiệp .

        Suy thoái kinh tế toàn cầu dẫn đến nhu cầu của thị trường quốc tế thu hẹp, biện pháp bảo hộ mậu dịch tăng lên, mậu dịch thế giới giảm rõ rệt. Theo số liệu thống kê của WTO, năm 2009 kim ngạch mậu dịch hàng hóa toàn cầu giảm 23%, xuống còn 12.150 tỷ USD, lượng mậu dịch thế giới giảm 12,2%, đây là mức giảm lớn nhất kể từ hơn 70 năm trở lại đây. Trong đó, kim ngạch XK của Mỹ giảm 13,9%, EU giảm 14,8%, Nhật Bản giảm 24,9%, đều cao hơn mức giảm bình quân của thế giới. Bước vào năm 2010, cùng với việc kinh tế hồi phục với tốc độ chậm, ngoại thương của các nền kinh tế chủ yếu xuất hiện sự tăng trưởng mang tính hồi phục. Trong 2 tháng đầu năm, nhập khẩu và xuất khẩu của Mỹ tăng trưởng lần lượt là 16% và 14,8%; khu vực đồng Euro tăng trưởng lần lượt là 3% và 7%. Trong tháng 3, nhập khẩu và xuất khẩu của Nhật tăng trưởng lần lượt là 20,7% và 43,5%. Tăng trưởng mậu dịch của các nước lớn thuộc các nước đang phát triển như Trung Quốc, Braxin …càng rõ nét hơn. WTO dự báo, thương mại thế giới trong năm 2010 sẽ tăng 9,5%; trong đó, XK của nước phát triển tăng 7,5%, XK của các nước đang phát triển tăng 11%, nhưng kim ngạch của thương mại thế giới không thể đạt được mức trước khi xảy ra khủng hoảng kinh tế. ➔Gây khó khăn cho các công ty điện tử trong việc thâm nhập thị trường quốc tế ,bên cạnh đó nó còn gây bất thuận lợi cho công ty trong việc cạnh tranh với các công ty điện tử bản địa.

        Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ làm mở rộng và làm gia tăng sự hài hoà và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới về con người và các chính sách trên toàn thế giới . Nó ảnh hưởng đến người dân ở hầu hết các khu vực ,ảnh hưởng đến sự giao lưu quốc tế về lao động, hàng hoá và kiến thức ➔đòi hỏi các doanh nghiệp trong ngành điện tử phải am hiểu toàn cầu  ,riêng với TCL sự toàn cầu hóa mang lại lợi thế cho công ty ,giúp công ty mở rộng phạm vy hoạt động trên toàn thế giới.

  1. PHÂN TÍCH NGÀNH VÀ CẠNH TRANH:

  1. Năm lực lượng cạnh tranh:

  1. Đe dọa của những đối thủ nhập cuộc tiềm tàng:

        Những đe dọa của những đối thủ nhập cuộc tiềm tàng đối với ngành điện tử là không lớn thể hiện qua rào cản nhập cuộc rất cao của ngành:

  • Qua quá trình tiêu dùng cũng như lịch sử tương đối dài của ngành điện tử, người tiêu dùng đã có lòng trung thành tương đối cao đối với các nhãn hiệu của các sản phẩm điện tử nên sẽ rất gây khó khăn cho các đối thủ tiềm tàng muốn gia nhập vào ngành và cố gắng phá vỡ lòng trung thành đó.
  • Hơn nữa, các công ty trong ngành còn có lợi thế chi phí tuyệt đối và tính kinh tế theo qui mô vì các đối thủ tiềm tàng muốn khởi sợ kinh doanh cần bỏ ra một số lượng vốn khổng lồ và cũng cần sản xuất và tiêu thụ một số lượng sản phẩm khổng lồ, bên cạnh đó thời gian quay vòng vốn đối với những người này sẽ khá lâu, khó khăn trong việc tìm nguồn nhân lực có kinh nghiệm và trình độ cao vì các công ty hiện tại đã nắm giữ gần hết rồi.
  • Ngoài ra, yêu cầu về công nghệ trong ngành điện tử rất cao. Những cải tiến và những phát minh không ngừng ra đời. Bên cạnh đó, những phát minh khoa học được bảo hộ bởi bản quyền và chỉ được công ty đó nắm giữ và sử dụng trong một thời gian nhất định.
  • Đối với người tiêu dùng ở Trung Quốc , có thu nhập thấp họ vẫn sử dụng những sản phẩm điện tử truyền thống có chi phí rẻ hơn nhiều nhưng sự lựa chọn của họ vẫn tập trung vào các hãng danh tiếng, với những người có thu nhập cao họ yêu cầu sản phẩm có chất lượng công nghệ cao ,mẫu mã đẹp.
  • Mặc dù các quy định của chính phủ về việc tham gia thị trường điện tử đã ngày càng thông thoáng hơn nhưng các công ty muốn xâm nhập thường chịu sự trả đũa bằng giá và chính sách marketing của các công ty hiện tại có tiềm lực mạnh về tài chính và có uy tín trên thị trường.
  1. Các đối thủ cạnh tranh trong ngành :

        Thị trường điện tử tiêu dùng Trung Quốc đang ngày càng trở thành thị trường quan trọng nhất của khu vực. Nó đã không chỉ trở thành một trong những nơi phát hành sản phẩm mới và công nghệ của những gã khổng lồ về điện tử toàn cầu mà cũng là nơi sinh ra những chuẩn mực của sản phẩm mới và công nghệ. Trong sự phát triển  của thị trường Trung Quốc, các đại gia quốc tế đóng một vai trò quan trọng. Hơn nữa, các nhà sản xuất địa phương mang thương hiệu quốc gia đã và đang tiếp tục giữ vai trò quan trọng.

        Sự phân cực của thị trường nghiên về các thương hiệu nổi tiếng ngày càng được tăng cường. Ví dụ thị trường điện thoại di động Trung Quốc, 80% thị phần thuộc về chỉ tám thương hiệu hàng đầu, so với 14 của cùng kỳ năm ngoái.  Trong thị trường máy tính xách tay, sô lượng máy tính tiêu thụ được hầu hết thuộc nhóm nhỏ các nhà sản xuất, trong đó có Lenovo, HP, IBM và Sony.

        Các ngành điện tử gia dụng câú trúc cạnh tranh của ngành là ngành tập trung bị lấn át bởi các công ty lớn như LG, Sharp, Samsung và cả TCL.

Thời đại ngày nay ,con người ngày càng phát triển và văn minh ,trên khắp thế giới cũng như ngay tại Trung Quốc nhu cầu sử dụng hàng điện tử đang gia tăng mạnh.Doanh số hàng điện tử gia tăng qua từng năm với tỉ lệ cao, thị trường hàng điện tử đang được rộng mở tạo điều kiện tốt cho các công ty trong ngành.

        Các công ty gia nhập ngành điện tử đã khó khăn ,nhưng việc rời ngành càng khó hơn nhiều.Hầu hết các công ty điện tử đều có lương công nhân khổng lồ cũng như quy mô nhà xưởng, thiết bị được đầu tư lớn, công ty muốn rời ngành sẽ chịu chi phí rất lớn từ việc thanh lý thiết bị ,hủy hợp đồng, bồi thường cho nhân viên ➔ rào cản rời ngành là cao.

  1. Khả năng của các sản phẩm thay thế:

        Đối với các sản phẩm công nghệ mới hơn LCD như OLED,  SED, LcoS, Laser thì khả năng đe dọa với các dòng TV cũ trong tương lai nhờ có các khả năng vượt trội về công nghệ tiết kiệm điện năng, kiểu dáng gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí sản xuất. ➔Khả năng đe dọa với các dòng TV trong tương lai là cao.

        Với xu thế tích hợp công nghệ các sản phẩm có thể thay thế TV trong công dụng xem truyền hình, giải trí như điện thoại có thể xem truyền hình vệ tinh, các ứng dụng của máy chiếu, các màn hình vi tính có thể xem được vệ tinh ngày càng phát triển mạnh ➔ Số lượng, chủng loại các sản phẩm có thể thay thế TV để xem truyền hình là rất cao ➔ Đe dọa lớn đến sự phát triển TV LCD.

        Các sản phẩm giải trí cao cấp khác khai thác cùng túi tiền khách hàng ngày càng xuất hiện nhiều và phát triển mạnh mẽ ➔ Đe dọa lớn đến doanh thu của TV LCD.

        Mỗi tháng, có khoảng 300 triệu người ở Trung Quốc sử dụng máy tính để xem các vở kịch truyền thống, các bộ phim truyền hình Hàn Quốc, Nhật và cả phim Mỹ. Đặc biệt, sự kiện bóng đá thế giới World Cup vừa qua đã thu hút lượng lớn người xem qua Internet. Các nhà phân tích cho rằng giới trẻ ở Trung Quốc bây giờ còn thích dùng laptop để xem truyền hình hơn là qua tivi, đặc biệt là với các sự kiện quốc tế lớn. Đây là một sự thay đổi đáng kể trong thói quen xem truyền hình ở quốc gia đông dân nhất thế giới này. Sự thay đổi bắt nguồn từ việc các đài truyền hình bắt đầu xây dựng các website truyền hình Internet.

        Bên cạnh đó, các cổng web và các máy tìm kiếm lớn của nước này như Baidu liên tiếp ra mắt các trang video. Nhiều nhà cung cấp nội dung Internet ở nước này bắt đầu lên kế hoạch mua bản quyền phát nội dung truyền hình Internet từ các nhà cung cấp ở Mỹ và các nước khác.

        Các trang video lớn của Trung Quốc như Youku, Tudou, KU6 và PPTV đang đầu tư mạnh mẽ vào việc mua bản quyền nội dung, tạo các chương trình truyền hình riêng và mua sắm băng thông cần thiết cho việc lưu trữ cũng như phát nội dung.        Đây cũng là sản phẩm thay thế cho các loại TV của TCL.

Tuy nhiên, hiện hữu trong ngành là các công ty cung cấp toàn diện các sản phẩm hàng điện tử công nghệ cao, bao gồm cả các sản phẩm thay thế của nhau nên đe dọa của các sản phẩm thay thế đến các công ty trong ngành là không cao.

➔Đe dọa của các sản phẩm thay thế đối với riêng sản phẩmTV LCD là rất cao, nhưng đối với các công ty trong ngành là không cao.

  1.  Năng lực thương lượng của nhà cung cấp :
  • Các nhà cung cấp nguyên vật liệu và thiết bị thông thường:

Hiện nay, các công ty trong ngành sản xuất điện tử với số lượng sản phẩm khổng lồ và mua nguyên vật liệu, thiết bị đầu vào thông thường có số lượng rất lớn nên các nhà cung cấp ít có khả năng thương lượng.

Vì hầu hết các công ty trong ngành sản xuất nhiều thiết bị đầu vào cho mình nên số lượng nguyên vật liệu, thiết bị đầu vào mà các công ty phải mua là không lớn so với số lượng tự sản xuất Hầu hết các công ty trong ngành chọn nhà cung cấp để giảm chi phí tự sản xuất ,họ có thể dễ dàng tự sản xuất nên nhà cung cấp ít có khả năng thương lượng➔ Năng lực thương lượng của các nhà cung cấp là thấp.

Các thiết bị, linh kiện đầu vào bình thường và phổ thông của của mặt hàng điện tử, các công ty trong ngành có thể dễ dàng thay đổi nhà cung cấp nếu cần ➔ Năng lực thương lượng của các nhà cung cấp là thâp.

  • Các nhà cung cấp các thiết bị cao cấp :

Với các nhà cung cấp các thiết bị cao cấp như chíp điện tử hoặc các thiết bị có công nghệ cao, họ có nhiều khách hàng và các sản phẩm của họ gần như không thể có nhà cung cấp khác thay thế ,họ có năng lực thương lượng cao đối với các công ty điện tử.

  1. Năng lực thương lượng của người mua :
  • Số lượng người mua:

Hiện nay dân số thế giới là gần 7 tỷ người do đó nhu cầu sử dụng các sản phẩm điện tử lớn, các đồ dùng thô sơ trong các gia đình đang được dần thay thế bằng các sản phẩm công nghệ, với mức sống đang ngày càng được nâng cao ,trong các gia đình hiện nay tràng ngập các thiết bị như TV, máy ảnh, máy giặc, điện thoại ,tủ lạnh......

  • Sự khác biệt hóa sản phẩm:

Các nhà sản xuất sản phẩm điện tử hiện nay luôn đưa ra các sản phẩm mới với những cải tiến mới, nhưng sự khác biệt đối với các sản phẩm là không nhiều, những tính năng cơ bản của sản phẩm không được thay đổi nhiều đó vẫn là thiết bị để xem các chương trình truyền hình....,tuy nhiên các sản phẩm đang dần khác nhau về mẫu mã như hình dáng, độ mỏng của TV ....nhưng sự khác nhau này là không nhiều , không rõ rệt .Chất lượng của TV cũng có sự khác nhau như độ nét ,sự bảo vệ mắt và sức khỏe, công nghệ 3D.....nhưng khi sản phẩm mới ra đời đếu có những sản phẩm khác ra đời tiếp theo tương tự những sản phẩm đó ,sự tiếp thu công nghệ của các công ty rất cao→ do vậy sự khác biệt về sản phẩm là không cao.

  • Chi phí chuyển đổi:

Các sản phẩm điện tử có tính năng tương tự nhau nên chi phí cho việc chuyển đổi sang việc sử dụng sản phẩm khác là không cao, hiện nay dân số trẻ chiếm đa số nên họ luôn muốn sự thay đổi, những cái mới trong sản phẩm nên chi phí chuyển đổi không phải là một trở ngại đối với họ

        Đối với người tiêu dùng trực tiếp: Tại Trung Quốc người dân có mức sống thấp, nhưng các mặt hàng điện tử có mẫu mã và giá cả đa dạng, người dân có thể dễ dàng lựa chọn sản phẩm phù hợp cho mình→ Năng lực thương lượng của mua cao.

  1. Trạng thái của ngành :

        Nhu cầu về tivi LCD được dự báo sẽ liên tục tăng trong những năm tới. Theo DisplaySearch, số lượng TV LCD trên toàn thế giới sẽ đạt mức 171 triệu chiếc vào năm 2010. Điều này có được là do nhu cầu về LCD tăng đột biến ở các thị trường mới nổi, cũng như việc xuất hiện thêm ngày càng nhiều các mẫu LCD LED và 3D. Trong khi, năm 2009 thị trường LCD toàn cầu mới ở mức trên 130 triệu sản phẩm.

        Các nhà phân tích dự đoán thị trường LCD tại Trung Quốc sẽ sớm đạt được mức 36 đến 37 triệu sản phẩm trong năm 2010, cùng với đó, Brazil và Ấn Độ sẽ đạt được số lượng lần lượt là 10 và 18 triệu chiếc.

Với tính toán của DisplaySearch, số lượng các sản phẩm LCD sử dụng công nghệ đèn nền LED trên toàn thế giới dự kiến sẽ được đạt được 32 triệu chiếc khi các hãng sản xuất Sony, Samsung, LG, Sharp và Vizio đang rất hào hứng với loại LCD này.

        Ngoài ra, với việc đón nhận những mẫu TV 3D đầu tiên vào năm 2010, thị trường LCD toàn cầu sẽ đón nhận thêm 1 triệu sản phẩm và thêm 9 triệu chiếc nữa vào năm 2012. Riêng Sony, họ hy vọng sẽ sản xuất ra được từ 30 cho đến 40 TV 3D vào năm 2013.

  1.         Phân tích  nhóm chiến lược:

  1. Các nhân tố then chốt dẫn đến thành công :

  1. Tốc độ cải tiến cao:

Các công ty trong ngành điện tử phải làm việc nhanh chóng để sử dụng các công nghệ mới nhất phù hợp với thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng và lợi ích phức tạp hơn nữa của hình ảnh, cũng như đối thủ cạnh tranh mới từ khắp nơi trên thế giới.

Gia công phần mềm cho phép các công ty nhảy vào thị trường mới với vốn đầu tư tương đối nhỏ. Những người dẫn đầu thị trường trong một cuộc cách mạng thường có thể không thích ứng đủ nhanh để cạnh tranh trong xu hướng thị trường lớn tiếp theo. Yếu tố thành công quan trọng của công ty điện tử tiêu dùng để duy trì tốc độ bao gồm:

  • Phát triển các dòng sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu "mua sắm nhiều hơn một" cho khách hàng
  • Chi phí-hiệu quả phát triển chuỗi cung ứng và hiệu quả các quá trình với các đối tác kinh doanh
  • Làm việc chặt chẽ với các đối tác để khai sinh và phát triển sản phẩm mới sẽ cho phép mở rộng thành phân khúc thị trường mới
  • Phối hợp tất cả các phòng ban - thiết kế, mua sắm, sản xuất, phân phối và dich vụ khách hàng để nhanh chóng phục vụ khách hàng
  • Nhận biết và thông báo cho tất cả các bộ phận và các đối tác những thay đổi của nhu cầu thị trường để đảm bảo tốc độ phản ứng
  • Tạo ra sản phẩm mới để thay đổi các sản phẩm lỗi thời

Những yếu tố thành công quan trọng đòi hỏi phải tích hợp các giải pháp doanh nghiệp và cho phép đối tác hợp tác kinh doanh và hợp tác.

  1.  Quản trị rủi ro trong kinh doanh:

Tiếp xúc với tồn kho đã lỗi thời không chỉ xảy ra trong thời kỳ suy thoái kinh tế, nó xảy ra trong mọi thay đổi trong công nghệ và giới thiệu mỗi sản phẩm mới. Các công ty phải đặt quá trình thực hiện để tránh nguy cơ lớn, đặc biệt là khi họ đã mở rộng công suất và lưu kho để đáp ứng rộng lớn hơn và nhiều hơn nữa các thị trường toàn cầu. Ngay cả một sản phẩm mới thành công người tiêu dùng có thể không có được nó, nhưng có lựa chọn thay thế.Yếu tố quan trọng để quản trị rủi ro trong kinh doanh sản phẩm điện tử có thể là:

  • Quản lí hàng tồn kho end-to-end để giảm thiểu các sản phẩm lỗi thời
  • Sản xuất linh hoạt, hoặc phân phối hiệu quả
  • Bổ sung theo nhu cầu dựa trên quản lý hàng tồn kho các nhà cung cấp (VMI)
  • Nhu cầu hợp tác lập kế hoạch và tìm nguồn cung ứng giữa các phòng ban và các đối tác kinh doanh
  • Chính xác, đáp ứng trên toàn thế giới bằng phân phối qua mạng

Theo hợp đồng mua sắm, trật tự và quản lý thanh toán để đảm bảo mỗi nhà cung cấp và khách hàng được xử lý một cách thích hợp và chia sẻ rủi ro theo thoả thuận

  1. Tuân thủ các qui định:

Để đáp ứng đầy đủ tất cả các yêu cầu đối với loại bỏ các vật liệu nguy hiểm và có khả năng tái chế các sản phẩm vào cuối chu kì sống của sản phẩm các công ty phải có tài liệu hoàn chỉnh về sản phẩm cũng như tài liệu theo dõi.

Nhiều nhà sản xuất đang phải đấu tranh để thực hiện các yêu cầu của pháp luật và thậm chí khách hàng cũng yêu cầu những điều này nhiều hơn cả pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi và an toàn cuộc sống cho họ.

Yếu tố thành công quan trọng bao gồm:

  • Quản lý giấy chứng nhận của các nhà cung cấp, theo dõi chặt chẽ các hoạt động của họ.
  • Thiết kế lại sản phẩm để loại bỏ chất độc hại và làm cho họ dễ dàng tháo rời và sắp xếp vào thành phần nguyên liệu để tái chế
  • Theo dõi khả năng các thành phần nguy hại trên toàn chuỗi cung ứng
  • Phân loại và ghi nhãn nguyên liệu trong nước vào và không phù hợp cổ phiếu phù hợp và đảm bảo mỗi nhóm chỉ được sử dụng cho các lô hàng đến các vùng thích hợp
  • Bảo đảm hoạt động sản xuất là phù hợp với các quy định tại tất cả các khâu

Để hỗ trợ các CSFs, các công ty đòi hỏi giải pháp doanh nghiệp với một số chức năng đặc biệt. Khả năng phân chia chính bao gồm hàng tồn kho bằng cách xác nhận hoặc nghi ngờ các mặt hàng giả, rất nhiều theo dõi đầy đủ và nối tiếp, các bộ lọc cho các thành phần Hội đồng quản trị, quản lý một sự bùng nổ của dữ liệu quản lý, và tài liệu chứng minh cho việc tuân thủ các qui định

  1.  Thiết lập các xu hướng mới:

Các công ty cung cấp các thiết bị điện tử tiêu dùng và ngành công nghiệp thiết bị đối mặt với sự thay đổi nhanh chóng về xu hướng của người tiêu dùng.

Các yếu tố thành công quan trọng cho ngành công nghiệp này đang thay đổi nhanh chóng, và công ty phải di chuyển ít nhất cũng nhanh như thay đổi dòng sản phẩm của họ. Để có được khách hàng và chỗ đứng  trong thị trường tiêu dùng, các công ty phải có doanh nghiệp trong toàn hệ thống tích hợp cho phép họ và chuỗi cung cấp toàn cầu của họ cùng với mạng lưới phân phối để phản ứng nhanh chóng và ở trong một vị trí để thiết lập xu hướng mới trong ngành công ty đang hoạt động.

  1. MÔI TRƯỜNG BÊN TRONG:

  1. CÁC KHỐI CƠ BẢN CỦA LỢI THẾ CẠNH TRANH:

  1. Hiệu quả vượt trội

Cách đây 20 năm, TCL chỉ là một Cty nhỏ bé chủ yếu SX băng từ, nhưng sau đó TCL nhanh chóng trở thành nhà SX điện gia dụng lớn mạnh với các sản phẩm: Tivi màu, điện thoại di động, vi tính, máy giặt, máy lạnh, thiết bị điện... và đủ sức cạnh tranh trực tiếp với các hãng điện tử hàng đầu thế giới. Qua 2 thập niên, tốc độ tăng trưởng của TCL luôn giữ mức ổn định 50% tăng trưởng hàng năm, có thể xem như kỳ tích trong lịch sử phát triển của các doanh nghiệp nói chung trên thế giới. Bắt đầu từ năm 2002, tập đoàn TCL quyết tâm huy động tập hợp lại nguồn tài nguyên tivi màu trên bình diện toàn cầu, từ đó TCL nhanh chóng trở thành Nhà sản xuất tivi lớn nhất toàn cầu, sản lượng tivi hàng năm sẽ đạt tới 18 triệu chiếc. So với những sản phẩm khác, hiện nay tivi màu và điện thoại di động của TCL có sức cạnh tranh mạnh mẽ so với các đối thủ cùng ngành.

Riêng đối với dòng sản phẩm tivi LCD, TCL thành lập module LCD tại Huệ Châu. Năng lực sản xuất của module LCD đạt 5-6 triệu đơn vị trong đó có 3 triệu thành phẩm và 2-3 triệu bán thành phẩm. Module LCD chiếm khoảng 70% chi phí sản xuất một chiếc tivi. Như vậy nhờ module LCD này, TCL có thể cắt giảm đáng kể chi phí sản xuất. Mặt khác, sản xuất theo module sẽ hạn chế tỷ lệ lỗi xảy ra trong quá trình sản xuất, từ đó giúp TCL tiết kiệm được chi phí phải bỏ ra để sữa chữa.

Hiện nay, TCL được đánh giá là một trong những tập đoàn điện tử tiêu dùng hàng đầu thế giới và sở hữu rất nhiều thương hiệu nổi tiếng như TCL, Thomson, RCA, Go-Video, Alcatel... Đặc biệt, TCL được mệnh danh là nhà sản xuất TV màu lớn nhất toàn cầu sau khi kết hợp với hãng TV Thomson lừng danh của Pháp.

Các dòng sản phẩm mang thương hiệu TCL được tiêu thụ rộng rãi trên hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sản phẩm của TCL đã đạt được nhiều giải thưởng danh giá về thiết kế như: reddot, IF, Observer Design..

  1. Cải tiến vượt trội

Trong bảng tuyên bố sứ mệnh và viễn cảnh của mình TCL khẳng định cải tiến liên tục chính là nguyên tắc hoạt động hàng đầu của tập đoàn này.

TCL đã mở ra một kỷ nguyên cho TV LCD đầu tiên trên thế giới có khả năng bảo vệ sức khỏe người xem, khẳng định là một thương hiệu hàng đầu trong việc sáng tạo và ứng dụng những công nghệ tiên tiến nhất.

TCL đã và đang xây dựng nâng cấp các sản phẩm di động từ 2G sang 3G và liên tiếp tung ra một số series Internet điện thoại di động

Hưởng lợi từ việc cải tiến liên tục sản phẩm, công ty tăng cường hoạt động R & D và thiết kế để tăng khả năng công ty sẽ tung ra một thế hệ mới của bàn phím và màn hình cảm ứng OT-980 trượt. Công ty sản xuất “điện thoại thông minh” với nền tảng nhãn hiệu Android cũng như một loạt các sản phẩm dựa trên TD-SCDMA và nền tảng WCDMA .

Công ty cũng quyết tâm thúc đẩy phát triển sản xuất thiết kế gốc (ODM) để công ty để đạt hiệu quả kinh tế lớn hơn về quy mô và hiệu quả giảm mua sắm và chi phí sản xuất.

TCL phấn đấu trở thành một "nhà lãnh đạo điện thoại internet".Trong tầm nhìn thương hiệu của mình TCL mong muốn sử dụng "điện thoại Internet" để định vị sản phẩm khác biệt trong thị trường trong nước để chủ động tăng cường chiều sâu hợp tác chiến lược với các công ty Internet nổi tiếng trong nước.

Đối với sản phẩm chủ lực là tivi, cải tiến là tiêu chí số một trong hoạt động kinh doanh loại sản phẩm này. Từ thế hệ tivi CRT lần đầu tiên ra mắt vào năm 1992, đến nay TCL đã đưa ra thị trường những mẫu tivi ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất như tivi LCD Blue Ray tivi LCD LED, tivi 3D, tivi LCD Helth LED, tivi Soho. Tất cả những mẫu tivi này đều được giới chuyên môn đánh giá cao về tính năng, công nghệ và thiết kế.

TCL là thương hiệu đầu tiên trong việc tích hợp bộ chip giải mã thông minh trong sản phẩm Blue Ray LCD, cho phép trình chiếu các định dạng phim ở độ phân giải HD và Full HD. Không chỉ nhận diện các định dạng “sơ khai” như Mpeg, Dat, Wav, Ts, Avi…, Blue Ray LCD còn tương thích dễ dàng với các định dạng chuẩn 1080P như Mkv, Rmvb, Mov, Rm... bao gồm cả các bộ phim chất lượng cao như H.264 và 1080P.

Khác với tivi 3D của các hãng khác, tivi 3D của TCL không cần kính hỗ trợ nhưng vẫn đảm bảo độ nét và chân thực của hình ảnh. Điều này giúp khách hàng có được những trải nghiệm mới trong việc thưởng thức thành tựu công nghệ mới.

  1.  Đáp ứng khách hàng

Với các trung tâm R&D được trang bị hiện đại cùng đội ngũ các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trình độ cao, TCL ngày càng đẩy mạnh công việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng mục tiêu để từ đó cho ra đời những sản phẩm đáp ứng tốt nhất mong muốn của người sử dụng.

TCL là nhà tiên phong trong lĩnh vực sản xuất hàng điện tử hướng đến mục đích bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, thân thiện với môi trường. Điển hình cho qiuan điểm này chính là sự xuất hiện tivi LCD Health Led ứng dụng công nghệ NaturalLight Engine. NaturalLight Engine giúp tái tạo ánh sáng nhân tạo phát ra từ màn hình thành loại ánh sáng phân cực tròn (ánh sáng gần giống với ánh sáng tự nhiên nhất xét về mặt lý tính) nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến mắt. Tiếp sau dòng LCD TV sử dụng NaturalLight Engine I (Công nghệ ánh sáng tự nhiên thế hệ 1), nhóm nghiên cứu của TCL tiếp tục cho ra đời dòng Health LED/ LCD mới với NaturalLight Engine II (Công nghệ ánh sáng tự nhiên thế hệ 2), được nâng cấp toàn bộ kỹ thuật dựa trên nền tảng của NaturalLight Engine I, giúp Health LED/ LCD càng trở nên thân thiện với mắt, tiết kiệm điện năng và tối ưu hóa hiệu quả hiển thị.

Đáp ứng nhu cầu giải trí cao của thế hệ trẻ, TCL ra mắt dòng sản phẩm Soho LED tivi là sản phẩm tích hợp với máy tính, cho phép khách hàng vừa dùng làm tivi vừa dùng làm máy tính. Đặc biệt, Soho LED TV phục vụ tối đa nhu cầu giải trí của người tiêu dùng nhờ các ứng dụng công nghệ cao. Với khả năng đa kết nối với các thiết bị như máy vi tính và đầu chiếu phim HD, máy chơi game qua các cổng giao tiếp như : HDMI, USB, VGA, DVD, AV.

Đáp ứng khách hàng của TCl còn thể hiện ở mạng lưới phân phối rộng khắp ở tất cả các khu vực có mặt thương hiệu TCL nhằm đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất về chi phí. Bên cạnh đó, với sự trợ giúp của một trung tâm Chăm sóc khách hàng tiên tiến nhất hiện có đặt tại Trung Quốc và rất nhiều Trung tâm chăm sóc khách hàng ở nhiều nơi trên thế giới, TCL cung cấp cho khách hàng của mình các dịch vụ suốt ngày đêm với sự thuận lợi, tính chuyên nghiệp và lòng nhiệt tình

  1.  CÁC NGUỒN LỰC VÀ KHẢ NĂNG TIỀM TÀNG:

  1. Các nguồn lực:

  1. Tài sản hữu hình.
  • Vật chất:

        Tập đoàn TCL có 7 đơn vị kinh doanh gồm TCL Multimedia Holdings, TCL Communication Holdings, TCL Home Applicances Group, Techne Corporation, Real Estate & Investment Group, Logistics & Service Group, Systems Technology Group. Trong đó, TCL Multimedia có tài sản chiếm tỉ trọng lớn nhất với giá trị 62 triệu Nhân dân tệ. Hiện nay TCL có hơn 18 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển các kỹ thuật công nghệ mới tại những quốc gia hàng đầu như Pháp, Mỹ, Đức, Nga, Singapore … cùng 60.000 nhân viên làm việc tại 20 cơ sở sản xuất và hơn 40 văn phòng kinh doanh của  hơn 130 quốc gia trên thế giới, phục vụ trên 100 triệu khách hàng toàn cầu.

 Tổng giá trị tài sản của cả tập đoàn là 649 triệu Nhân dân tệ. Doanh thu toàn cầu của TCL năm 2007 đạt 5,8 tỉ USD.

image10.jpg

Chi nhánh của TCL trên thế giới.

  • Các nguồn kĩ thuật :

TCL sở hữu Công nghệ ánh sáng tự nhiên NaturaLIGHT Technology (NLT) độc quyền có khả năng tái tạo ánh sáng phát ra từ TV thành dạng ánh sáng phân cực tròn - loại ánh sáng có tính chất vật lý tương đồng với ánh sáng tự nhiên giúp bảo vệ mắt an toàn.Công nghệ này đã được kiểm định và cấp bằng sáng chế tại Hoa Kỳ chứng nhận những lợi ích thiết thực của nó. Kết hợp cùng khả năng điều khiển độ ánh sáng nền và độ tương phản động linh hoạt với từng thể loại phim TV của TCL có thể tiết kiệm đến 50% điện năng tiêu thụ đồng thời đảm bảo mắt không phải điều tiết quá mức khi cường độ ánh sáng đèn nền cao.

TCL sở hữu công nghệ độc quyền trong phân tích xử lý hội tụ tám điểm ảnh ở tám góc nhìn khác nhau, qua đó tạo nên hình ảnh hiệu quả lập thể. Công nghệ độc quyền này kết hợp với kính lọc  và màn hình 3D đến từ Pháp cho phép người xem thưởng thức cảnh phim như thật bằng chính mắt thật của mình.

TCL tích hợp công nghệ kết nối với máy tính trong sản phẩm TV Soho của công ty đáp ứng nhu cầu học tập và giải trí của tuổi Teen nhờ chức năng 2 trong 1: vừa làm màn hình máy vi tính vừa có thể dùng làm tivi .Với khả năng đa kết nối với các thiết bị như máy vi tính và đầu chiếu phim HD, máy chơi game qua các cổng giao tiếp như : HDMI, USB, VGA, DVD, AV cho phép bạn trẻ có thể xem phim, chơi game và xem lại những khoảnh khắc đáng nhớ cùng gia đình, bạn bè.

  • Các nguồn tài chính:

Năm 2009, công ty đạt được thu nhập là 44295000000 nhân dân tệ, trong đó thu nhập từ hoạt động bán hàng là 42919000000 nhân dân tệ, tăng 14,86%, lợi nhuận ròng đạt 470 triệu nhân dân tệ.

Chủ tịch Li Dongsheng cho biết hiệu suất hoạt động của công ty trong năm 2009 đạt được sự tăng trưởng đáng kể, chủ yếu là vì công ty tiếp tục thực hiện "củng cố nền tảng của nó, khi đối mặt với nghịch cảnh là, tăng trưởng lành mạnh" trong chiến lược kinh doanh âm thanh , TCL Multimedia và TCL Truyền thông xung quanh việc kinh doanh cốt lõi của công ty là hội nhập có hiệu quả các nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động, đẩy nhanh tiến độ nâng cấp công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu các sản phẩm cốt lõi và công nghệ hướng R & D đột phá; và thông qua để mở rộng màn hình thiết bị đầu cuối của dây chuyền công nghiệp thượng nguồn , tạo ra một thiết bị đầu cuối hiển thị làm nòng cốt, tích hợp theo chiều dọc của hội nhập thượng nguồn và hạ nguồn của toàn bộ chuỗi phân phối ngành công nghiệp, Tập đoàn tăng cường đáng kể khả năng cạnh tranh toàn diện, lợi nhuận tiếp tục cải thiện trong suốt cả năm để đạt được lợi nhuận hoạt động

         Bốn nhóm khu vực trên thế giới (Trung Quốc, Châu Âu, Bắc Mỹ, thị trường rộng lớn đang nổi lên) tạo thành một bố cục hoàn chỉnh của ngành công nghiệp toàn cầu. Được hưởng lợi từ nhu cầu mạnh mẽ tại Trung Quốc và thị trường nước ngoài kinh tế phục hồi ổn định, năng lực chuỗi cung cấp và việc tăng cường ảnh hưởng thương hiệu, việc tối ưu hóa và cải thiện các kênh bán hàng, công ty trên thị trường trong nước và ở nước ngoài đã nhận được sự phát triển ổn định. Các dữ liệu tài chính từ nhóm có thể được nhìn thấy trong kết quả ban đầu của Tập đoàn đã bước ra khỏi khủng hoảng tài chính, hiển thị từ thấp đến cao trước khi cải thiện theo xu hướng tăng dần. Doanh thu bán hàng  năm 2009 đạt 17079000000 nhân dân tệ trong nửa đầu năm tăng đáng kể từ năm 2008 với 42919000000 nhân dân tệ,  (tăng 14,86%).Ngoài ra, dòng tiền hoạt động và các dữ liệu đã được cải thiện có hiệu quả.

         TCL Multimedia nói rằng sự tăng trưởng ổn định hiệu suất của công ty chủ yếu là kết quả của tăng cường năng lực cạnh tranh cốt lõi của doanh nghiệp chính của mình và quản lý rủi ro được cải thiện và hiệu quả hoạt động trong công ty. Với chức năng độc đáo và thiết kế thời trang xuất hiện của nó, công ty đã tiếp tục tăng trưởng lợi nhuận trong thị trường Trung Quốc. Là nhà sản xuất TV hàng đầu trong năm năm kế tiếp, TCL Multimedia bán 6.848.000 đơn vị của bộ truyền hình trong khoảng thời gian báo cáo với thị phần 17,1%. Do các "gia dụng đến khu vực nông thôn" và các chính sách kinh tế nhằm kích thích nhu cầu trong nước, doanh số của các sản phẩm TV LCD tăng lên 84,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

         Tại thị trường Bắc Mỹ, mặc dù chịu ảnh hưởng của nhu cầu tiêu dùng giảm sút và khủng hoảng tín dụng, thay đổi cơ cấu tiêu thụ và giảm giá của các sản phẩm màn hình lớn TV TCL thúc đẩy tăng trưởng nhanh chóng của nhu cầu cho TV LCD.

         Hơn nữa, sự tăng trưởng của doanh số bán tại các thị trường mới nổi chậm lại do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính. TCL Multimedia cho biết công ty sẽ tập trung vào chiến lược cơ bản của nó về cơ cấu khách hàng, thị trường mục tiêu và xây dựng thương hiệu tại các thị trường mới nổi, điều chỉnh cơ cấu chi phí thông qua hội nhập theo chiều dọc của các cơ sở sản xuất trong nước và tận dụng các danh mục sản phẩm của mình để tăng thị phần của công ty.

         Từ quan điểm công nghiệp cụ thể, năm 2009, TCL đa phương tiện kinh doanh thành công công nghiệp nâng cấp, chuyển đổi, doanh thu TV LCD thế giới đạt 8.373.000 đơn vị, tăng đáng kể (100,1%) so với năm trước. DisplaySearch thống kê, LCD TV hàng từ vị trí thứ tám của thế giới trong năm 2008 tăng lên vị trí thứ bảy trong năm 2009, hoạt động của công ty đã trở lại con đường tăng trưởng.

TV LCD khối lượng bán hàng 1Q 2010

TV LCD khối lượng bán hàng 1Q 2009

TV LCD khối lượng bán hàng tăng trưởng(%)

TV khối lượng bán hàng tổng 1Q 2010

TV khối lượng bán hàng tổng 1Q 2009

Tổng số

1.927

1,199

+60.7

3,539

2,421

Trung Quốc

1,188

761

+56.1

1,757

1,591

Ở nước ngoài

739

438

+68.7

1.782

830

  • Báo cáo tài chính năm 2010:

Chỉ tiêu (HK$ million)                          Q1 2010           Q4 2009         thay đổi (%)

Doanh thu                                                6.761              5.014              +34,8

Lợi nhuận gộp                                         1.097              910                 +20,5

Lợi nhuận hoạt động                               123                  86                   +43

Lợi nhuận của chủ sở hữu                        44                  26                  +69,2

Lãi cơ bản trên mỗi cổ phiếu                   4,32                 2,51               +72,1

    (HK cents)

Các nhân số chính dẫn tới sự thay đổi của lơi nhuận hoạt động:

Lợi nhuận hoạt động trong năm 2010 tăng 43% so với năm 2009, nguyên nhân chủ yếu do các yếu tố:

-               Lợi nhuận gộp tăng 20,5%

-         Chi phí hành chính giảm 22,1%

-         Chi phí R&D giảm 14,5%

-         So với năm 2009,chi phí hoạt động khác tăng lên 62,6% chủ yếu do chi phí tái cấu trúc TTE Singapor

-         Doanh thu khác thấp hơn chi phí khác nhưng có tăng lên được 13,8% so với năm 2009

-         Chi phí bán hàng và phân phối cao hơn do doanh số tăng lên 29%

  • Bảng cân đối kế toán

Khoản mục (HK$ million)

Ngày 31-3-2010

Ngày 31-12-2009

Tài sản dài hạn

1.982

2.026

Tài sản ngắn hạn

-         Đầu tư ngắn hạn

-         Tiền mặt và tiền gửi ngân hàng

13.354

4.922

2.541

12.895

4.918

2.079

Nợ ngắn hạn

11.188

10.804

Tài sản hiện tại ròng

2.166

2.091

Nợ dài hạn

376

405

Tài sản ròng

3.772

3.712

  • Các chỉ tiêu tài chính:

Chỉ tiêu

Ngày 31-3-2010

Ngày 31-12-2009

Vòng quay hàng tồn kho (ngày)

31

35

Vòng quay khoản phải thu (ngày)

40

57

Vòng quay khoản phải trả (ngày)

54

80

Khả năng thanh toán nhanh

1.2

1.2

Đòn bẩy tài chính

26,7%

2,6%

Qua các chỉ tiêu tài chính có thể thấy rằng TCL hoạt động chủ yếu dựa trên vốn vay, sử dụng đòn bẩy tài chính để gia tăng doanh thu và lợi nhuận. Khả năng thanh toán nhanh lớn hơn 1 cho biết TCL có khả năng thanh toán các khoản nợ hiện thời, như vậy TCL đã duy trì một mức độ phù hợp nguồn tài sản ngắn hạn cũng như các khoản vay ngắn hạn đủ để ổn định uy tín tài chính của mình.

  1. Tài sản vô hình:
  • Nhân sự:

Chủ tịch Tập đoàn TCL - Lý Đông Sinh đã được tạp chí nổi tiếng nhất hiện nay Fortune bình chọn "Nhân vật kinh tế Châu Á năm 2003"  là vị lãnh đạo tài năng, có những chính sách rất đúng đắn để đưa TCL đến những thành công ngày nay

Tất cả nhân viên của TCL đều luôn phấn đấu nỗ lực để đạt được tầm nhìn của công ty để trở thành những tôn trọng và sáng tạo công ty hàng đầu thế giới.

TCL có nhóm Tim Thom là đội ngũ chuyên về thiết kế của TTE( TCL-Thomson Electronics). Thành lập bởi Gerard Vergneau từ năm 1997, bao gồm các nhà thiết kế sản phẩm và thiết kế đồ họa tài năng và chuyên nghiệp, Tim Thom thực hiện công việc là tưởng tượng, thiết kế và hỗ trợ phát triển sản phẩm mang nhãn hiệu của TTE (Thomson, TCL và RCA).  Nhóm thiết kế Tim Thom tiếp cận sáng tạo của mình trong việc tạo ra các thương hiệu sản phẩm mới, và trong các nghiên cứu có triển vọng về các công nghệ mới.  Đây là nhóm thiết kế tài năng đã làm cho các sản phẩm của TCL sáng tạo và khác biệt so với các sản phẩm của công ty khác

  • Các nguồn sáng kiến (hay tinh thần cải tiến không ngừng)

Toàn thể nhân viên không ngừng theo đuổi những sự đổi mới và cải tiến trong công việc hàng ngày. TCL thúc đẩy bản thân hướng đến cải tiến những hệ thống và những quy trình nhằm tăng cường sự thông tin, hợp tác và tính hiệu quả. TCL khuyến khích các cá nhân tài giỏi mang đến những ý tưởng mới – có sức lôi cuốn các cấp quản trị đổi mới chính mình..  TCL tìm kiếm những nhân lực có thể thực thi nhanh chóng và đáp ứng những giới hạn về thời gian trong khuôn khổ của những chuẩn mực chất lượng.

TCL chú trọng vào hoạt động R&D. TCL có 15 trung tâm R & D trong công ty con với khoảng 4000 nhân viên và chuyên gia trên toàn thế giới. R & D cơ sở bao gồm các phần mềm phát triển nghệ thuật, dụng cụ và trang thiết bị, 9 phòng thí nghiệm có chứng nhận của quốc gia Trung Quốc công nhận Hội đồng cho phòng thí nghiệm (CNAL), 6 phòng thí nghiệm hợp tác cùng nhau thành lập với nổi tiếng quốc tế, Việc đầu tư R & D của công ty dự kiến đạt 1800000000 RMB trong năm 2010.

Nghiên cứu các khu vực bao gồm: nền tảng bao gồm công nghệ kết nối, công nghệ màn hình phẳng, video và các công nghệ xử lý đồ họa, công nghệ truyền hình kỹ thuật số, truyền hình IP và IP tương tác truyền hình băng rộng công nghệ, AVS công nghệ, thông tin di động 3G công nghệ, kinh nghiệm người dùng và nghiên cứu người sử dụng.

TCL cam kết cung cấp nhân sự R & D với một môi trường nghiên cứu tốt hơn, nền tảng truyền thông quốc tế, update thông tin về nhu cầu thị trường và rộng lớn nhất, các ứng dụng hiện đại. Với sự cống hiến, chính trực, làm việc theo nhóm và tinh thần một sáng tạo, tất cả nhân viên TCL đang hợp tác với các tổ chức nghiên cứu đẳng cấp thế giới để thành lập một công ty hàng đầu thế giới.

  • Giá trị thương hiệu:
  • Năm 1995 là 92 triệu USD và tăng lên 4,83 tỉ USD vào năm 2006; tăng 52 lần trong 11 năm và bước lên vị trí top 3 thương hiệu ở Trung Quốc.
  • Năm 2007, tương đương 5,88 tỉ USD.
  • Năm 2010, giá trị thương hiệu của TCL đã vượt quá  (6.84 tỉ usd)

image11.png

  • Danh tiếng:
  • Hiện nay, TCL được đánh giá là một trong những tập đoàn điện tử tiêu dùng hàng đầu thế giới và sở hữu rất nhiều thương hiệu nổi tiếng như TCL, Thomson, RCA, Go-Video, Alcatel... Đặc biệt, TCL được mệnh danh là nhà sản xuất TV màu lớn nhất toàn cầu sau khi kết hợp với hãng TV Thomson lừng danh của Pháp.
  • Các dòng sản phẩm mang thương hiệu TCL được tiêu thụ rộng rãi trên hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
  • Sản phẩm của TCL đã đạt được nhiều giải thưởng danh giá về thiết kế như: reddot, IF, Observer Design..
  • TCL trở thành một thương hiệu toàn cầu thực sự.  
  • TCL cũng đã sát nhập nhiều công ty, hãng điện tử nổi tiếng và có những công ty con, cũng như những thương hiệu hàng đầu thế giới
  1. Năng lực cốt lõi:

Qua phân tích các nguồn lực cũng như lợi thế cạnh tranh của TCL, chúng tôi nhận thấy năng lực cốt lõi của TCL là khả năng cải tiến không ngừng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng và thay đổi nhanh chóng của khách hàng. TCL có thể nắm bắt nhanh chóng yêu cầu thị trường, tiến hành các hoạt động nghiên cứu, sản xuất, quảng bá với sự đầu tư qui mô lớn nhờ đó TCL luôn đưa ra các sản phẩm làm hài lòng người tiêu dùng.

         Bên cạnh đó thương hiệu tạo nên danh tiếng cho công ty, tạo uy tín trên thị trường giúp công ty lôi kéo được nhiều khách hàng. Sự tin tưởng của khách hàng về chất lượng dịch vụ cũng như độ an toàn khi thực hiện các giao dịch với ngân hàng. Do đó khả năng xây dựng thương hiệu là năng lực cốt lõi của TCL

Nguồn lực

Đáng giá

Hiếm

Khó bắt chước

Không thay thế

Tài chính

X

-

-

X

Vật chất

X

-

-

-

Nguồn nhân sự chuyên môn cao

X

X

-

X

Khả năng cải tiến

X

X

X

X

Khả năng xây dựng thương hiệu

X

X

X

X

  1. CHIẾN LƯỢC CÔNG TY:

  1. Hội nhập dọc:

        Về chiến lược cấp công ty của TCL, chúng ta có thể nhận thấy là TCL tham gia vào cả 3 giai đoạn chính của chuỗi sản xuất các sản phẩm điện tử là giai đoạn chế tạo trung gian, lắp ráp và phân phối, như thế TCL tiến hành chiến lược hội nhập dọc cả về phía sau và phía trước.

Chuỗi sản xuất các sản phẩm điện tử

Corning         TCL        TCL        TCL

Silicon Crystal         Intel        Samsung        Các công ty phân

Pime sci-tech        AU Optronics        AMD        phối hàng điện tử        

(Tham khảo nhóm 5 samsung lớp 31k8)

Ảnh hưởng đến các năng lực cốt lõi của công ty:

  • Ảnh hưởng đến nguồn vật chất của công ty ,nguồn vật chất của công ty tăng lên nhờ số lượng các nhà máy và phân xưởng được xây dựng nhằm giúp công ty tham gia vào hai quá trình chế tạo và lắp ráp ,bên cạnh đó hệ thống phân phối cũng giúp tăng nguồn vật chất của công ty.
  • Nguồn tài chính của công ty suy giảm do các chi phí vận hành và quản lý, mà mở rộng các cơ sở mới.
  • Khả năng cải tiến của công ty sẽ được nâng cao nhờ sự làm chủ các quy trình công nghệ từ chế tạo và lắp ráp.Sự tham gia phân phối giúp công ty hiểu rõ tâm lý khách hàng ,từ đó các chính sách cải tiến sẽ phù hợp hơn .
  1. Đa dạng hóa :

        TCL  hoạt động tập trung vào 4 lĩnh vực chủ yếu đó là  đa phương tiện, truyền thông, thiết bị gia dụng và thiết bị điện tử điều này cho thấy Samsung đã tiến hành chiến lược đa dạng hóa liên quan.

        Bên cạnh đó TCL còn tiến hành chiến lược đa dạng hóa không liên quan như bất động sản ,đầu tư và dịch vụ vận tải.

Ảnh hưởng đến các năng lực cốt lõi của công ty:

  • Nguồn tài chính tăng lên do lợi nhuận từ nhiều lĩnh vực mang lại ☛Nguồn vốn của công ty tăng lên.
  • Các nhà máy cơ sở ,các công ty con được hình thành như TCL communication holdings ,Real estate& investment group…làm nguồn vật chất của công ty tăng lên.
  • Với sự đa dạng hóa này ,công ty cần nhiều nguồn lực về nhân sự hơn về số lượng cũng như chất lượng để có thể vận hành được công ty với quy mô lớn hơn ,do vậy nguồn nhân sự chuyên môn cao của công ty cũng tăng lên.
  • Với sự xuất hiện nhiều hơn các lĩnh vực kinh doanh ,các hoạt động quảng cáo cũng rầm rộ hơn ,do cùng lúc quảng cáo thương hiệu TCL trong nhiều lĩnh vực ,sự cộng hưởng này làm khả năng xây dựng thương hiệu TCL tăng lên.
  1. Chiến lược cải tổ hay tái cầu trúc :

        Năm 2004 ,TCL đã thất bại tại thị trường Ấn Độ do đánh giá sai người tiêu dùng Ấn độ, chiến lược gia nhập thị trường sai và quan hệ không tốt với các đối tác địa phương, không hiểu được sự liên tưởng giữa chất lượng và giá cả trong tâm lý người dân Ấn độ, nên các nỗ lực bán sản phẩm thật rẻ của họ  khiến họ mang tiếng là sản xuất hàng kém chất lượng , TCL đã ngừng các hoạt động kinh doanh và rút khỏi thị trường Ấn Độ. TCL đang thực hiện chiến lược tái cấu trúc theo hướng giảm qui mô bằng cách loại bỏ công ty TCL Ấn Độ.

        Năm 2006, trong báo cáo nửa năm của công ty, TCL đã công bố khoản lỗ của 738.000.000 nhân dân tệ (92 triệu USD) mặc dù bán 10.880.000 bộ truyền hình màu trong giai đoạn từ tháng sáu, trên thế giới bán hàng cao nhất số liệu và thị trường cổ phiếu toàn cầu của 11 phần trăm,nguyên nhân là do chi phí quản lý và vận hành một lượng lớn chi nhánh và liên doanh đã một gánh nặng về tài chính cho TCL Corp. Do đó TCL đã tiến hành cải tổ.

  • Các hoạt động của TTE châu Âu, một liên doanh giữa TCL và Thomson, đã được đồng ý trong đó bán hàng và tiếp thị của tất cả các sản phẩm truyền hình ở châu Âu, sẽ được dừng lại.  Phần lớn các cơ sở nhân viên hiện tại TTE châu Âu cũng sẽ trải qua cải cách.
  • TCL  đã thanh lý một số tài sản và hàng tồn kho ở Châu Âu.
  • TCL Corp công bố một kế hoạch cải tổ lên đến 1050000000 nhân dân tệ thông qua một kế hoạch  “Chia sẻ tư nhân để đầu tư tổ chức”.

TCL dự kiến hoạt động của mình tại Hoa Kỳ và Châu Âu phải chịu thua lỗ trong năm 2010 do màn hình LCD trên các thị trường này đang giảm giá .Công ty đã tiến hành các hoạt động để cải tổ

  • Trước mắt để tiếp tục duy trì vị thế cạnh tranh trên thị trường công ty thực hiện phương châm “Khi bảng giá đi xuống, chúng ta phải giảm giá nhanh hơn so với đối thủ của chúng ta, khi giá lên chúng ta phải tăng giá chậm hơn so với đối thủ của chúng ta”.
  • Công ty đẩy mạnh các hoạt động tại thị trường nội địa Trung Quốc để giữ vững mức tăng trưởng thị trường này để bù đắp thua lỗ tại châu Âu. TCL đã bán cổ phiếu mới nâng cao khả năng tài chính tài trợ cho sự phát triển các sản phẩm LCD và LED và bổ sung cho nguồn vốn lưu động.

Ảnh hưởng đến các năng lực cốt lõi của công ty:

  • Với việc rút lui khỏi thị trường bị thất bại là Ấn Độ với việc thanh lý tài sản và hàng tồn kho ở Châu Âu và việc bán cổ phiếu bổ sung cho nguồn vốn lưu động ,nguồn tài chính của công ty được cải thiện sau những thua lỗ xảy ra.
  • Những thất bại làm tổn hại và giảm giá trị thương hiệu của công ty TCL ,sự cải tổ làm cho công ty thoát ra khỏi thất bại do đó khả năng xây dựng thương hiệu của công ty tăng lên nhờ vào các hoạt động cải tổ này.
  1. Chiến lược liên minh

        Năm 2008, TCL đã liên minh với Haier và một số công ty sản xuất hàng điện tử tiêu dùng khác của Trung Quốc để thành lập liên minh chiến lược sản xuất tuyên bố ngừng sản xuất sản phẩm DVD để tập trung vào EVD (Enhanced Versatile Disc) cũng là DVD nhưng có hệ thống nén dữ liệu hiệu quả hơn ,nhằm mục đích cạnh tranh với các công ty nước ngoài.

        TCL Corp đã ký một thỏa thuận với công ty của Nhật Bản Toshiba Corp để thiết lập một liên doanh màn về hình tinh thể lỏng (LCD) truyền hình tại thị trường Trung Quốc, liên doanh này sẽ kết hợp dây chuyền công nghệ của hai công ty ,kết hợp khả năng sản xuất mạnh mẽ và khả năng bán hàng tại thị trường Trung Quốc của với lợi thế của thương hiệu Toshiba để thúc đẩy sự phát triển trong tương lai của hai công ty này.

Ảnh hưởng đến các năng lực cốt lõi của công ty:

  • Với chiến lược liên minh công ty sẽ kêt hợp với các công ty khác và tận dụng các lợi thế nguồn lực của công ty khác, giúp công ty học hỏi được các công nghệ của các công ty khác làm nâng cao khả năng cải tiến của công ty .Bên cạnh đó công ty có thể học hỏi các khả năng quản lý, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của công ty bạn.
  • Sự kết hợp các thương hiệu lớn sẽ giúp các công ty gia tăng khả năng xây dựng thương hiệu của công ty thông qua các chương trình truyền thông chung và sự học hỏi các chiến lược xây dựng thương hiệu của nhau.
  1. CHIẾN LƯỢC TRONG MÔI TRƯỜNG TOÀN CẦU:

  1.  SỨC ÉP GIẢM CHI PHÍ VÀ SỨC ÉP TỪ ĐỊA PHƯƠNG:

  1. Sức ép giảm chi phí:

Khi TCL mới bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực điện tử tiêu dùng, Sony hay Samsung đã là những đại gia trong lĩnh vực này. Các sản phẩm của họ tràn ngập trên thị trường, lấn át cả những thương hiệu lớn của Mĩ và Tây Âu.Vì vậy TCL đã phải đối mặt với một thách thức lớn từ việc giảm thấp chi phí để có thể định được một mức giá cạnh tranh so với đối thủ. TCL đã nghiên cứu sử dụng những qui trình sản xuất hiệu quả nhất về chi phí nhưng vẫn đảm bảo chất lượng đầu ra, các dây chuyền sản xuất tinh gọn, không rườm rà với nhiều khâu không cần thiết. Công ty ứng dụng những loại nguyên liệu mới có giá rẻ hơn so với trước đây. Bên cạnh đó TCL cũng thực hiện tiết kiệm chi phí quản lí doanh nghiệp và chi phí hành chính. Nhờ đó khi tính giá thành sản phẩm, TCL đã hạ thấp giá thành được rất nhiều so với đối thủ cạnh tranh cũng như so với chính TCL trước đây và vì vậy TCL hoàn toàn có thể đưa ra các mức giá thấp hơn cho sản phẩm của mình khi đưa chúng ra thị trường tiến hành tiêu thụ.

        Cạnh tranh trên thị trường hiện nay về các sản phẩm ti vi LCD rất gay gắt. Buộc không chỉ TCL mà tất cả các công ty trong ngành phải tìm cách giảm chi phí để có thể vẫn thu được lợi nhuận. Và thực tế đã chứng minh rằng TCL đã làm tốt điều đó từ kết quả của hoạt động kinh doanh những năm vừa qua.

  1. Sức ép từ địa phương:

        TCL có các trung tâm thiết kế, nghiên cứu và phát triển độc lập được đặt ở nhiều nơi trên thế giới, các sản phẩm mới được nghiên cứu và sản xuất tại các trung tâm này vì vậy việc sản xuất sản phẩm mới không phụ thuộc vào các chi nhánh ở địa phương. Mặt khác, TCL luôn có những hoạt động hướng đến lợi ích xã hội tại những nơi công ty đặt trụ sở. Các hoạt động xã hội tích cực của TCL tại thị truờng Việt Nam là một minh chứng cho việc TCL không ngừng nổ lực kết nối hoạt động kinh doanh của mình với các hoạt động xã hội tại địa phương và nhờ vậy, TCL luôn có được những điều kiện thuận lợi từ địa phương để tiến hành hoạt động kinh doanh.

        Có thể nói, sức ép từ địa phương đối với TCL là không lớn nhờ sự chủ động của TCL khi hoạch định các chiến lược đối phó với vấn đề này.

  1. LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC:

Do sức ép giảm chi phí khá lớn và sức ép địa phương không đáng kể nên TCL lựa chọn chiến lược toàn cầu, TCL cố gắng hạ thấp chi phí trong khâu sản xuất, quản lí hành chính, chuỗi cung ứng bên cạnh đó không ngừng xây dựng, củng cố và mở rộng thương hiệu tại các thị trường trọng điểm trong chiến lược của mình bằng các chương trình marketing hiệu quả.

  1. CÁC CHIẾN LƯỢC THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG:

Năm 2002, TCL đã hoàn thành một công việc cơ cấu lại công ty, và khác với chuyển dịch cơ cấu của các doanh nghiệp khác như Toshiba, Sumitomo, Nam Thái Bình Dương, Jinshan và các công ty quốc tế lớn khác để trở thành cổ đông. Mặc dù tỷ trọng của nước ngoài với tổng số cổ phần chỉ có 18% nhưng ý nghĩa chiến lược của nó không thể xem nhẹ, đó là một quyết định chiến lược của TCL mà còn là tương lai của TCL . Đó là vì lý do này, cổ phiếu TCL của các nhà đầu tư nước ngoài được gọi là 'cổ phiếu chiến lược ". Từ Việt Nam, Philippines và các nước khác, TCL đã thực hiện bước đầu tiên của nó trong quốc tế hóa. Khi Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác sau khi phát triển thành công và tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong TCL bắt đầu nhìn về phía châu Âu.
TCL thâm nhập thị trường quốc tế thông qua Việt Nam, nó nên được cho là một quyết định hợp lý. Việt Nam và Trung Quốc có sự tiếp giáp về địa lý và văn hóa. Trong kinh tế, có những điểm tương đồng giữa hai người tiêu dùng đó là dễ chấp nhận sự vận động của các chính sách. Nói cách khác, đây là một thị trường tương đối phát triển. Việt Nam, như là một thị trường tương đối nhỏ, ngay cả khi sự phát triển không thành công vẫn không sẽ gây ra nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp. Như vậy, TCL  lựa chọn Việt Nam, là lựa chọn đúng đắn.
Theo quan điểm TCL, trên thế giới có ba thị trường có thể hấp thụ hơn một nửa các sản phẩm của thế giới, sức mua toàn cầu là 70%, nếu chiếm được ba thị trường này thì thị trường thế giới sẽ nằm trong tầm tay của công ty. Ba thị trường là Trung Quốc, Liên minh châu Âu và Mỹ. Không cần phải nói, thị trường Trung Quốc, và từ đầu năm 2002, TCL đã trở thành vua bán hàng.
So với Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu rõ ràng là ở mức thấp hơn, chọn thị trường này như là một sự "nâng cấp" quốc tế theo định hướng, không có nghi ngờ khi cho đây là một sự lựa chọn hợp lý. Sự khởi đầu của năm 2002, TCL, bắt đầu phát triển ở Châu Âu, trong năm nay, nó bỏ ra một khoản chi phí  8.000.000 euro mua lại  Schneider, do đó chấm dứt những thập kỷ dài bị ngăn cản bởi rào cản chống bán phá giá tivi màu Trung Quốc. Mặc dù thương hiệu Trung Quốc muốn chiếm lĩnh thị trường Đức và cả châu Âu, con đường để đi còn rất xa nhưng  TCL đã thiết lập một sự khởi đầu tốt. Sản phẩm Trung Quốc đã luôn luôn bị coi là kém chất lượng và giá thấp gây khó khăn cho người tiêu dùng Châu Âu và Hoa Kỳ chấp nhận.
Theo quan điểm của họ, sức mạnh của các doanh nghiệp Trung Quốc không thể thâm nhập các thị trường châu Âu và Mỹ, và bây giờ, TCL đã thâm nhập.Với sức mạnh gia tăng nhanh chóng của TCL, và việc điều chỉnh chiến lược của các doanh nghiệp nước ngoài tài trợ tại Trung Quốc, TCL thực sự cảm thấy cần phải tiếp tục đẩy mạnh tốc độ quốc tế của chiến lược toàn cầu của mình, bố trí phải được hoàn tất trong vòng hai năm. Vì vậy, sau năm 2003, TCL đã tăng lên đáng kể đối với Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nga, Nam Phi và các nước khác trong nỗ lực phát triển. Năm 2004, TCL trên một mặt thông qua việc mua lại kênh cả là màu truyền hình, thương hiệu DVD, GO VIDEO, cấu trúc thực sự của các kênh bán hàng của riêng họ, một mặt  thực hiện xuất khẩu vào Hoa Kỳ  thông qua công ty sản xuất Phillip. 
Sự tích hợp của Schneider của Đức cũng được hoàn thành trong năm nay, đưa ra sản phẩm chính thức trên thị trường. TCL TV màu xuất khẩu đạt hơn 80 quốc gia, với khối lượng xuất khẩu tổng cộng hơn 3.850.000 đơn vị. 
Ngày 28 tháng 1 năm 2004, Chủ tịch Tập đoàn TCL Li Dongsheng, Chủ tịch Da Hali và Thomson đã gặp nhau ở Pháp, ký kết hợp đồng hợp tác chính thức kinh doanh DVD. Việc ký kết hợp đồng này đã được khơi mào vào ngày 04 tháng 11 năm 2003 tại Quảng Châu, khi hai bên đã thông báo các TV màu, đầu đĩa DVD kết hợp chuyển dịch cơ cấu kinh doanh toàn cầu, việc thành lập công ty điện tử TCL-THOMSON, được chính thức chuyển sang giai đoạn hoạt động quan trọng. Công ty điện tử TCL-THOMSON sẽ áp dụng một  Chiến lược đa thương hiệu vào thị trường  châu Á và thị trường mới nổi là thương hiệu TCL, thương hiệu THOMSON tại châu Âu, thương hiệu RCA ở Bắc Mỹ, chủ yếu tùy thuộc vào nhu cầu thị trường và thúc đẩy hai bên có thương hiệu khác.  TCL International Holdings sẽ trở thành cổ đông lớn của công ty mới, chiếm 67% số cổ phần, Thomson nắm giữ 33% cổ phần còn lại. Giám đốc điều hành của liên doanh khu vực được gửi từ TCL sang THOMSON. TCL-THOMSON sẽ là một công ty điện tử TCL and Thomson, từ đội ngũ quản lý qua biên giới đa văn hóa. Lấy cổ đông và quản lý phê duyệt, việc thành lập công ty mới dự kiến sẽ được hoàn thành vào năm 2004.
TV của TCL Thomson chuyển dịch cơ cấu kinh doanh và được coi là thế giới của tivi màu. Các phương tiện truyền thông nói chung đã đồng ý rằng, sự chuyển dịch cơ cấu này của TCL sẽ đẩy mạnh tốc độ quốc tế và hiệu quả của nó sẽ phá vỡ rào cản thương mại từ EU, Hoa Kỳ  đối với TV màu sắc Trung Quốc có một ý nghĩa tích cực. Li Dongsheng cho biết, so với chuyển dịch cơ cấu kinh doanh TV của Thomson, cho TCL, lợi ích lớn nhất là toàn cầu hóa từ phân bổ nguồn lực, tầm nhìn quốc tế hóa doanh nghiệp, quyền sở hữu trí tuệ và công nghệ cốt lõi trong lĩnh vực điện tử. 
Trong thực tế, sáp nhập và tổ chức lại của TCL thực hiện hành động quốc tế đã bắt đầu. Mùa thu năm 2002 của thế kỷ 21, TCL mua lại Schneider của Đức. Nửa đầu năm 2003, TCL vừa được lặng lẽ mua lại công ty của Mỹ - kênhGO-VEDIO. 
TCL cũng  thực hiện hàng loạt các vụ mua lại trong những năm gần đây và cơ cấu lại như là một phần của chiến lược quốc tế hóa theo định hướng. Trước đây, TCL tại Việt Nam, Philippines, Indonesia, Nam Phi, Nga và các thị trường khác đã được thực hiện khá tốt, đây được xem là một bản xem trước của TCL quốc tế. 
  1. CHIẾN LƯỢC CẤP KINH DOANH:

  1.  NHU CẦU KHÁCH HÀNG VÀ SỰ KHÁC BIỆT SẢN PHẨM:

        TCL cung cấp cho khách hàng của mình những sản phẩm ứng dụng công nghệ kỹ thuật số hiện đại nhằm thõa mãn nhu cầu giải trí, học tập, làm việc và cả nhu cầu thể hiện đẳng cấp, cá tính. Ngày nay, yêu cầu của khách hàng khi mua hàng điện tử không chỉ dừng lại ở giá cả phù hợp, chất lượng tốt, tính năng đa dạng mà còn hướng đến yêu cầu về thiết kế gọn nhẹ, tinh tế, sản phẩm phải than thiện với môi trường và bảo vệ sức khỏe của người tiêu dùng. Nắm bắt được xu hướng này TCL đã tiến hành nghiên cứu và đưa ra thị trường một số dòng sản phẩm có thiết kế hết sức sang trọng, đột phá trong phong cách.

        TCL cũng là nhà tiên phong trong lĩnh vực sản xuất hàng điện tử hướng đến mục đích bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng, thân thiện với môi trường. Điển hình cho quan điểm này chính là sự xuất hiện tivi LCD Health Led ứng dụng công nghệ NaturalLight Engine. NaturalLight Engine giúp tái tạo ánh sáng nhân tạo phát ra từ màn hình thành loại ánh sáng phân cực tròn (ánh sáng gần giống với ánh sáng tự nhiên nhất xét về mặt lý tính) nhằm giảm thiểu ảnh hưởng đến mắt. Tiếp sau dòng LCD TV sử dụng NaturalLight Engine I (Công nghệ ánh sáng tự nhiên thế hệ 1), nhóm nghiên cứu của TCL tiếp tục cho ra đời dòng Health LED/ LCD mới với NaturalLight Engine II (Công nghệ ánh sáng tự nhiên thế hệ 2), được nâng cấp toàn bộ kỹ thuật dựa trên nền tảng của NaturalLight Engine I, giúp Health LED/ LCD càng trở nên thân thiện với mắt, tiết kiệm điện năng và tối ưu hóa hiệu quả hiển thị.

        Một sản phẩm điển hình nửa của TCL chính là tivi Soho Led được TCL thiết kế để đáp ứng nhu cầu giải trí và thể hiện mình giành cho giới trẻ. Seri Soho LED TV của TCL có 4 dòng sản phẩm, gồm 24DE200, 24DE290, 24P21, 24P11, mỗi sản phẩm đều là một sự khẳng định cho sự sáng tạo không ngừng của đội ngũ thiết kế TCL. Xét về mặt công nghệ, TCL Soho LED với tính năng “đa kết nối, đa tiện ích” được thể hiện rõ rệt qua sự trang bị đầy đủ các cổng giao tiếp như: Antena (TV), AV, DVD, VGA(PC), USB, HDMI, S-Video. Đặc biệt tính năng kết nối với PC làm màn hình vi tính có thể đáp ứng được nhu cầu học tập hoặc làm việc năng động của giới trẻ. Các cổng giao tiếp khác thực sự đem lại tiện lợi cho thế giới giải trí tại gia như: TV, kết nối các thiết bị HD, thiết bị chơi game, Camera kỹ thuật số... biến chiếc TV trở thành trung tâm giải trí đa năng trong gia đình.

        Thiết kế của Soho LED cũng là một điều đáng quan tâm. Được thiết kế bởi nhóm thiết kế nổi tiếng tại châu Âu - Tim Thom Paris, nhóm từng là chủ nhân của nhiều giải thưởng như Ret Dot, Janus, A.C.P.I… TCL Soho LED với kiểu dáng mỏng gọn, trang nhã với phong cách thiết kế sang trọng đến từ Pháp sẽ mang lại một góc nhìn đẹp trong một không gian hẹp như phòng ngủ hoặc không gian rộng rãi như phòng khách, phòng ăn. Đặc biệt, sản phẩm còn tạo nên một sự phá cách trong thiết kế khi đem sợi hợp kim làm vỏ của máy, đem lại một cái nhìn hoàn toàn mới trong chất liệu cấu thành của vỏ sản phẩm. Series gồm 4 mẫu Soho LED 24DE200, 24DE290, 24P21, 24P11. Đặc biệt P21 & P11 mang tới sự trẻ trung, năng động với thiết kế thạch anh sáng bóng và sang trọng. TCL Soho LED sử dụng đèn nền LED bố trí theo viền màn hình, do vậy sản phẩm mang dáng thanh mảnh với độ mỏng chỉ 1,7cm.

  1. PHÂN ĐOẠN THỊ TRƯỜNG MỤC TIÊU:

  • Phân đoạn theo khu vực địa lí:

image10.jpg

Các chi nhánh của TCL trên khắp thế giới.

        Các thị trường chính của TCL hiện nay bao gồm Trung Quốc, Châu Âu, Bắc Mĩ và các thị trường mới nổi. Tại Trung Quốc và các thị trường mới nổi, TCL kinh doanh hai nhãn hiệu chính là TCL và Rowa, trong khi đó nhãn hiệu Thomson được TCL dành riêng cho khu vực châu Âu. Tại thị trường Bắc Mĩ, các sản phẩm của TCL được biết đến với thương hiệu RCA nổi tiếng.

  • Phân đoạn theo thu nhập khách hàng:

        Khách hàng mục tiêu TCL hướng đến được chia thành hai nhóm là nhóm có thu nhập trung bình và nhóm có thu nhập cao.

  • Đối với nhóm khách hàng có thu nhập thấp, TCL tập trung vào sản xuất các sản phẩm bình dân có giá phù hợp với khả năng chi trả của khách hàng nhưng vẫn bảo đảm chất lượng và tính năng sản phẩm.
  • Đối với nhóm khách hàng có thu nhập cao, TCL chú trọng vào công tác nghiên cứu thiết kế để cho ra đời những sản phẩm có thể cạnh tranh trên phân đoạn thị trường các sản phẩm cao cấp.
  1. HÀNH ĐỘNG THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CẤP KINH DOANH:

  1. Mua lại-sáp nhập:

        “Sáp nhập để trở thành công ty toàn cầu”

        Điểm lại quá trình vươn mình của TCL có thể nhận thấy vai trò quan trọng của chiến lược sáp nhập và chính chiến lược này đã đưa TCL trở thành thương hiệu có tính cạnh tranh trên toàn cầu. Năm 1981, TCL đã hợp nhất với các nhà đầu tư Hồng Kông thành lập TTK Household Electronic Appliance Co., Ltd, trở thành một trong 12 liên doanh lớn nhất Trung Quốc trong lĩnh vực sản xuất máy cassette. Một “nước cờ” táo bạo khác của TCL là ký kết thỏa thuận gói về kênh tín dụng trị giá 2 tỷ RMB với Ngân hàng xuất nhập khẩu Trung Quốc vào năm 1998.

        Nǎm 2002, TCL đã mua công ty Schneider Electronics AG, một công ty đang phá sản của Đức.

        Năm 2003, TCL sáp nhập với tập đoàn RCA nổi tiếng của Mỹ. Tháng 4.2004, TCL mua lại hãng điện tử Thomson của Pháp để lập nên tập đoàn TCL-Thomson chuyên sản xuất tivi màu lớn nhất thế giới với sản lượng hàng năm lên đến 18 triệu chiếc. Đến tháng 7.2004, TCL mua 49% cổ phần của Alcatel, tập đoàn viễn thông hàng đầu nước Pháp. Quá trình sáp nhập này đã mở đầu cho sự tăng trưởng vượt bậc của TCL và biến thương hiệu mang tính nội địa này thành thương hiệu toàn cầu, có tính cạnh tranh cao trên toàn thế giới. Ông Li Dongsheng, người sáng lập kiêm Chủ tịch Tập đoàn TCL, khẳng định: “Thành công của TCL là kết quả của quá trình quốc tế hóa tập đoàn”. Hiện nay, TCL được đánh giá là một trong những tập đoàn điện tử tiêu dùng hàng đầu và sở hữu nhiều nhãn hiệu lớn như TCL, Thomson, Alcatel, RCA và Go-Video (Mỹ)...

TCL International Holdings Ltd thiết lập các vǎn phòng, thậm chí cả nhà máy, ở Phillipines và Indonesia trong 3 nǎm qua. Terry Yi, Tổng giám đốc của TCL Overseas Marketing Ltd nói rằng mục tiêu của TCL là thiết lập nhãn hàng hóa toàn cầu và đây mới thực sự là kinh doanh của tương lai.

  1. Thực hiện đa nhãn hiệu:

        Công ty áp dụng chiến lược đa nhãn hàng , theo đó công ty quảng cáo sản phẩm của mình theo 4 nhãn hiệu khác nhau đó là : TCL ,ROWA, THOMAS,RCA tại các thị trường khác nhau.

  1. CHIẾN LƯỢC CÁC SBU:

  1. Tivi LCD

TCL Multimedia Technology Holdings Limited chịu trách nhiệm chính về sản xuất tivi, có trụ sở tại tỉnh Quảng Đông – Trung Quốc. Công ty thành viên này là nơi cho ra đời các dòng tivi ứng dụng công nghệ mới nhất giúp TCL cạnh tranh mạnh mẽ trong thị trường.

Tcl sử dụng chiến lược tạo sự khác biệt và dẩn đạo chi phí nhằm tạo lợi thế cạnh tranh với các đối thủ.

  • Chiến lược tạo sự khác biệt:

 Các sản phẩm tivi được sản xuất bởi TCL Multimedia Technology Holdings có tính vượt trội về kĩ thuật cũng như thiết kế vì TCL luôn tổ chức nghiên cứu với qui mô lớn trước khi quyết định sản xuất. Mới đây, TCL Multimedia Technology Holdings đã chính thức cho ra mắt tivi LCD bóng bán dẫn thế hệ 8.5. Các nhà phân tích  cho rằng, theo quy định của sản xuất hiện nay, màn hình LCD thế hệ 8.5 là cạnh tranh nhất và nó cũng là dây chuyền sản xuất chính cho màn hình tivi tương lai với phạm vi sản phẩm hoàn thiện nhất. Theo dự báo của các tổ chức có thẩm quyền, các kích thước màn hình chính của bảng điều khiển để sử dụng sau nhà nên là 32 ~ 37 ', 40 ~ 47' và 52 ~ 55 '. Đi vào thị trường nông thôn của Trung Quốc, các kích thước chính cũng nên bao gồm 26 '. Các sản phẩm được cung cấp bởi các dây chuyền sản xuất 8,5-thế hệ bảng điều khiển chính xác bao gồm phạm vi kích thước ở trên, cùng với hiệu quả cao và tính linh hoạt cắt giảm chi phí sản xuất. Chỉ có một nhà sản xuất đã tuyên bố công nghệ thế hệ bảng điều khiển cao hơn. Nhưng các nhà sản xuất sẽ không được hiệu quả hơn về chi phí nguyên liệu, đầu tư vốn, đầu vào công nghệ, triển vọng thị trường và các khía cạnh khác. Do đó, 8,5-thế hệ là dây chuyền sản xuất chính cho các tấm hình trong tương lai, cũng như bảng điều khiển truyền hình dây chuyền sản xuất phù hợp với thị trường Trung Quốc. Nó có triển vọng thị trường tuyệt vời.

  • Chiến lược dẫn đạo chi phí:

TCL đầu tư thành lập modul LCD với các dây chuyền hiện đại áp dụng 6 sigma nhằm hạn chế sai sót đến mức thấp nhất trong quá trình sản xuất. Điều này giúp TCL cắt giảm được 20-25% chi phí sửa chữa phải bỏ ra đồng thời có thể giảm chi phí quản lí và một số loại chi phí vô hình khác. Các modul này cho phép TCL có được giá thành thấp hơn đối thủ nhờ đó  công ty sẵn sàng đưa ra một mức giá thấp để cạnh tranh với các thương hiệu lớn khác.

  1. Điện thoại di động

Chịu trách nhiệm về các dòng sản phẩm điện thoại di động là TCL Communication Technology Holdings Limited. Công ty này sản xuất điện thoại di động chủ yếu dựa trên kỹ thuật và công nghệ của Acatel – một hãng điện thoại di động danh tiếng của Pháp được TCL mua lại. TCL Truyền thông hướng tới mục tiêu trở thành nhà sản xuất điện thoại di động, cung cấp các lựa chọn thay thế tốt nhất trên thị trường với một dòng các giải pháp cho người dùng cuối và các nhà khai thác thị trường. Công ty tập trung vào sáu lĩnh vực chính: GSM, CDMA, dữ liệu thẻ, phụ kiện, ODM và Thiết kế các phòng thí nghiệm đơn vị kinh doanh thương hiệu dành riêng cho các sản phẩm trên và tùy chỉnh các dự án cấp phép. Các sản phẩm của công ty bao gồm OT 806, Q510, L718 màu hiển thị, Q520, 3188 +, và điện thoại di động 3188M. Nhãn hiệu OT-806 điện thoại di động đã nhận được giải thưởng năm 2010 cho IF và phong cách của mình thiết kế năng động có tính năng công nghệ chức năng kép cho phép người dùng sử dụng một trong hai chức năng cảm ứng màn hình của thiết bị cầm tay hoặc bàn phím QWERTY đầy đủ cho khách hàng kinh nghiệm độc đáo. Tính năng của điện thoại bao gồm khả năng tương thích với các mạng 2G/Wi-Fi cũng như khả năng Dual SIM. Bên cạnh thương hiệu Acatel, TCL cũng liên doanh với Sony Ericssion để mở rộng tên tuổi và qui mô trong lĩnh vực truyền thông. Liên doanh với Sony Ericssion vào tháng tư năm 2005 đã giúp doanh số của TCL tăng từ 363 115 lên đến 867 760, thị phần của công ty gia tăng một cách đáng kể trong thời gian ngắn.

Giờ đây công ty tiếp tục nghiên cứu cho ra mắt các dòng điện thoại di động mới nhất ứng dụng công nghệ 3G. Đây là công nghệ mà công ty đã nghiên cứu thành công cách đây 10 năm nhưng chưa có nhiều cải tiến, ngày nay được sự trợ giúp của sức mạnh tài chính cũng như các chuyên gia kĩ thuật xuất sắc, TCL đang từng bước tạo nên sự đột phá trong lĩnh vực này.

Như vậy chiến lược của SBU này là chiến lược tập trung vào một loại sản phẩm. TCL đưa ra rất nhiều dòng điện thoại di động khác nhau và mỗi dòng lại bao gồm nhiều sản phẩm với sự khác nhau ở độ đa dạng của các chức năng. Ví dụ dòng điện thoại OT với seris các sản phẩm từ OT 600 cho đến OT 806, các sản phẩm này giống nhau ở đặc trưng công nghệ và có một đèn pin mini nhưng khác nhau ở mức độ đa dạng các tính năng và dung lượng bộ nhớ. Các dòng sản phẩm của SBU này đều mang nhãn hiệu Acatel nhằm giúp TCL thâm nhập vào thị trường châu Âu vốn không có chỗ cho các thương hiệu Trung Quốc trong lĩnh vực điện thoại di động đồng thời tạo niềm tin về chất lượng đối với những khách hàng ở thị trường các nước mới nổi. Đây là một sách lược rất khôn ngoan của lãnh đạo TCL.

  1. Thiết bị gia dụng

TCL Delonghi Home Appliances là đơn vị kinh doanh các thiết bị gia dụng của TCL, có trụ sở tại Quảng Đông – Trung Quốc. Các sản phẩm của công ty Line  có hơn 400 loại bao gồm: Nồi cơm điện, bếp cảm ứng, thiết bị phân phối nước, chai nước lọc, Quạt điện, nóng, khói thuốc, khử trùng Bếp máy, khí máy nước nóng, bếp gas và như vậy. Khả năng sản xuất và R & D đã đạt đến trình độ hàng đầu thế giới. R & D của chúng tôi bộ phận bao gồm hơn 100 nhà thiết kế và 100 kỹ sư công nghiệp. Chúng tôi đã sử dụng các tiến nhất R & D hệ thống từ công nghiệp và cấu trúc thiết kế để công cụ thiết kế, đạt hơn 100 bằng sáng chế. Công ty chúng tôi đã liên tục thông qua ISO9001: 2000 phê duyệt hệ thống quản lý chất lượng và ISO 14001: 2004 ,đầu tư hơn 10 triệu ở trung tâm thẩm định và kiểm tra, trong đó có tất cả các loại dụng cụ thử nghiệm, hơn 100 bộ trang thiết bị và hơn 30 thử nghiệm chuyên nghiệp kỹ sư. Ngay từ đầu, TCL đã dành rất nhiều trong việc thiết lập nền tảng cao cấp kiểm soát tiêu chuẩn chất lượng, xây dựng trung tâm kiểm nghiệm và chứng nhận, đó là một trong các phòng thí nghiệm kiểm tra quy mô lớn nhất trong ngành công nghiệp nhỏ trong nước hiện hành thiết bị gia dụng.

Sau chiến lược kinh doanh năm 2010 để tăng gấp đôi sự phát triển, dòng sản phẩm mở rộng bao gồm trung và cao cấp sản phẩm tiết kiệm năng lượng. Bán hàng ở cả hai thị trường trong nước và nước ngoài của TCL đã  thấy sự tăng trưởng đáng kể, trong đó thể hiện những dấu hiệu cho lợi nhuận liên tục cho bộ phận thiết bị nhà. Bán hàng trong khoảng thời gian quý 1 đã tăng trưởng 50% mỗi năm, trong đó doanh số bán hàng của các đơn vị điều hòa nhiệt độ đã tăng 91,72% lên 473.800 đơn vị, doanh số của máy giặt đều tăng 49,85%. Năm 2010 các tín hiệu toàn cầu cho thấy TCL củng cố phát triển vững chắc của mình trên thị trường trong nước, nó sẽ tiếp tục mạnh mẽ tích hợp và phát triển kinh doanh ra thị trường quốc tế để phát huy ảnh hưởng của mình ở và xây dựng năng lực cạnh tranh cốt lõi của nó trong ngành công nghiệp panel phẳng toàn cầu. Để cung cấp một mức độ hoàn hảo và chất lượng dịch vụ khách hàng trên toàn thế giới, TCL đã thành lập một hoạt động gọi cho trung tâm thống nhất và toàn cầu có trụ sở tại Manila, Philippines. Cả trong và ngoài nước, và thể hiện sự tăng trưởng vững chắc. Khi thị trường nước ngoài tiếp tục cải thiện và thị trường của TCL ngày càng được mở rộng - sản phẩm cạnh tranh ở nước ngoài của TCL có nên tiếp tục tốc độ ổn định

  1. CÁC CHIẾN LƯỢC CHỨC NĂNG

  1. CHIẾN LƯỢC NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN:

Trung tâm R&D duy trì một đội ngũ nhân viên tận tụy có trình độ sáng tạo cao, trong R & D và bộ phận bán hàng, những người rất có kinh nghiệm trong đề xuất các hình thức thích hợp nhất và theo dõi cho mục đích kinh doanh của khách hàng. TCL phục vụ khách hàng đại diện trên một phạm vi đa dạng của các hoạt động và cơ cấu của Tập đoàn R & D và sản xuất, cũng như tiến hành R & D và kế hoạch sản xuất của công ty, có nghĩa là TCL đang quen dần với việc phát triển sản phẩm phù hợp. Thông qua kết quả của việc tiếp xúc với điều này nhiều doanh nghiệp Trung Quốc ở giai đoạn phát triển khác nhau, TCL đã trở thành người lãnh đạo trong lĩnh vực này, do đó đóng một vai trò quan trọng trong sự tiến bộ của ngành công nghiệp nói chung.

        TCL khẳng định sẽ trở thành một trong những Công ty hàng đầu trên thế giới về khả năng sáng tạo; thiết kế nên điều mơ ước của những sản phẩm hôm nay để mang đến tuyệt tác cho ngày mai … để chúng ta dễ dàng đón trước tương lai hơn, hoàn thiện hơn và yêu thương nhau nhiều hơn.

  1. CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT

            TCL đầu tư rất lớn vào việc mua sắm các dây chuyền sản xuất có năng suất cao, ứng dụng công nghệ mới nhất nhằm giảm thiểu tối đa các sai sót có thể xẩy ra trong quá trình sản xuất trong khi đó vẫn đảm bảo số lượng các sản phẩm theo yêu cầu. Kết hợp với việc mua mới dây chuyền sản xuất, TCL còn thực hiện các hành động chiến lược như mua lại một số công ty có nhà máy sản xuất nhưng thiếu vốn hoạt động hay quyết định thành lập các modul sản xuất chỉ chuyên sáng tạo một chủng loại sản phẩm như Modul LCD, Modul điện thoại di động…Những modul này đóng góp rất lớn vào mục tiêu phục vụ nhu cầu khách hàng hiệu quả của TCL vì chúng làm giảm thiểu đáng kể chi phí của khâu sản xuất.

Với sản lượng ti vi lên tới 18 triệu chiếc / năm. Đã giúp TCL đạt được tính kinh tế theo quy mô. Ngoài ra với việc mua lại hay sát nhập với 1 số hãng điện tử danh tiếng trên thế giới như Thomson (Pháp), GO-video (Mỹ), hay Schneider Electric ( Đức) và chuyển phần lớn các hoạt động sản xuất về đây. Với quyết định này đã giúp TCL tận dụng công nghệ, thị phần và thương hiệu của các công ty này, góp phần cắt giảm, tiết kiệm được chi phí sản xuất đồng thời xem đây là 1 điểm tựa để thâm nhập vào các thị trường ở châu Âu và Nga.

        Công ty cũng quyết tâm thúc đẩy phát triển sản xuất thiết kế gốc (ODM) để giúp công ty đạt được hiệu quả kinh tế lớn hơn về quy mô và hiệu quả cắt giảm chi phí trong mua sắm và sản xuất.

  1. CHIẾN LƯỢC MARKETING VÀ BÁN HÀNG :

        TCL đầu tư  rất nhiều cho hoạt động marketing gồm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị,… mỗi năm, cũng như khuyếch trương hình ảnh công ty lên mạng và có tên trong bảng tổng sắp các hãng lớn nhất thế giới. TCL quảng cáo rầm rộ, liên tục và thường xuyên đổi mới hình thức nội dung quảng cáo để gây chú ý tránh sự nhàm chán cho khách hàng. Sự trẻ trung, phong phú và đa màu sắc chính là phong cách và đặc trưng trong các mẫu quảng cáo của TCL.

        TCL sử dụng dịch vụ marketing trọn gói với việc thuê những công ty quảng cáo chuyên nghiệp. Các công ty này sẽ đưa ra 1 chuỗi những hoạt động như quảng cáo, PR, tổ chức sự kiện, kích hoạt thương hiệu, marketing trực tuyến... Với những công cụ khuyến mãi mà TCL thường sử dụng là catalog, hàng mẫu, film, slide film, hội chợ và triển lãm thương mại và các tài liệu, công cụ tại điểm bán hàng đã thu hút được 1 lượng lớn khách hàng, góp phần rất lớn vào việc tăng doanh số quảng bá thương hiệu. Với việc thuê các công ty quảng cáo trọn gói thì TCL cũng góp phần làm giảm chi phí trong hoạt động truyền thông nhưng vẫn đảm bảo được những hiệu quả.

TCL đẩy mạnh quan hệ cộng đồng và luôn coi đây là cơ hội để tạo ra một hình ảnh tốt đẹp của TCL thông qua các hoạt động PR, hoạt động từ thiện,  hoạt động xã hội. Tại các thị trường mà TCL hoạt động, công ty thành lập các quỹ khuyến học mang tên TCL để giúp đỡ học sinh và giáo viên gặp khó khăn, tích cực tham gia các hoạt động xã hội khác như kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường, xây dựng trường học (đến nay đã có hơn 50 trường Hy vọng do TCL bảo trợ được hoàn thành)… Những hoạt động này thể hiện nỗ lực của TCL trong việc gắng bó hoạt động của công ty với các thị trường mà TCL hướng đến.

ASIAD lần thứ 16 tại Quảng Châu - Trung Quốc, các sản phẩm LED TV của TCL được chọn là sản phẩm độc quyền trong các phương tiện trình chiếu. TCL sẽ tiến hành chiến dịch trên bộ của châu Á cùng chuyến đi đường để chào đón sự xuất hiện của tàu, thúc đẩy tầm châu Á và Trung Quốc văn hóa và tăng cường tình hữu nghị giữa các dân tộc và địa phương của Trung Quốc Đồng thời, Tổng công ty TCL sẽ lựa chọn người tiêu dùng và các tình nguyện viên ở nước ngoài từ các nước châu Á tham gia Asian Games Quảng Châu 2010, cho phép họ trải nghiệm những kinh nghiệm vô song của văn hóa Trung Hoa và thưởng thức các trò chơi châu Á. Với kinh phí tài trợ hơn 10 triệu USD dưới hình thức tài chính và tài trợ các sản phẩm công nghệ cao, TCL mong muốn mang lại những hình ảnh trình chiếu sống động, mượt mà trong từng khoảnh khắc của các trận đấu. Đây cũng chính là cơ hội quảng bá hình ảnh, thương hiệu của TCL, cũng là cách thương hiệu này vươn lên khẳng định vị thế trên thị trường điện tử  ở các nước châu Á.

image02.jpg

Hoạt động phân phối:

        Các mạng lưới bán hàng bao gồm bốn trung tâm kinh doanh khu vực, và phân bố rộng rãi ở 130 quốc gia trên thế giới:


image03.jpg

Cũng như các hãng điện tử Trung quốc khác, TCL cũng sử dụng hệ thống phân phối là các cửa hàng chuyên doanh, siêu thị điện tử bên cạnh hệ thống các cửa hàng bán lẻ.

Tháng 7 năm 2005, TCL mua lại mạng lưới bán hàng của Thomson, thỏa thuận chuyển các hoạt động bán hàng và tiếp thị ở Châu Âu và Bắc Mĩ từ Thomson sang TCL

  1. CHIẾN LƯỢC VỀ NGUỐN NHÂN LỰC

        TCL lôi kéo mọi cả nhân tài năng trên thế giới đến đóng góp giá trị cho TCL, huấn luyện và phát triển những tài năng tại những lớp học của mình trên toàn thế giới.

        Với sự toàn cầu hóa hiện nay nỗ lực của bộ phận nhân sự là giải quyết sự khan hiếm của những người có kiến thức đa văn hóa hoặc kinh nghiệm thực tế về toàn cầu hóa.  TCL cho rằng họ đang có một sự thiếu hụt tài năng toàn cầu trong mỗi bộ phận đặc biệt là những người có thể đàm phán với các đối tác và những người có sự hiểu biết sâu sắc về thị trường của công ty ở châu Âu và Mỹ.

        Vấn đề quản lý nhân tài ở nước ngoài được công ty đề cao và chú trọng. Công ty đang cố gắng phát triển các nhà lãnh đạo phù hợp hơn, công ty đã bắt đầu để đối phó với sự thiếu kinh nghiệm toàn cầu của các nhà lãnh đạo bằng cách gửi các nhà quản lý tốt nhất của mình để tập trung đào tạo các chương trình quản lý hoặc thuê những lãnh đạo có kinh nghiệm  quốc tế tài năng. TCL  lấp đầy khoảng cách với môi trường. bằng cách tìm kiếm nhân viên bên ngoài Trung Quốc. TCL đã tuyển dụng một người Singapore ,  Leong Yue Wing, một cựu nhân viên của Philips vào vị trí phó chủ tịch.

Hàng năm TCL trích ra 2% trong trong tổng số lương của nhân viên cho chương trình đào tạo và phát triển. Các chương trình này thực hiện nhằm giúp nhân viên của TCL nắm bắt cách thức làm việc trong môi trường làm việc năng động, kỹ năng bán hàng, kỹ năng xử lý vấn đề khách hàng. Công ty cũng thực hiện các chương trình nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân sự như tạo sự cạnh tranh trong môi trường làm việc, luân chuyển công việc trong các vị trí cá nhân, huấn luyện các kĩ năng giao tiếp với người dân (đặc biệt là người nước ngoài), và giải quyết xung đột…. ➔Nhằm tạo cơ hội cho nhân viên phát triển về năng lực cũng như cơ hội thăng tiến.

        TCL tích cực tìm cách bảo đảm các thông lệ lao động lành mạnh và cung cấp cho nhân viên các chương trình hỗ trợ để ủng hộ sự phát triển của nhân viên mình như những nhà chuyên môn, những cá thể và những thành viên xã hội. Tại nơi làm việc, các thủ tục nghiêm ngặt chi phối việc xử lý hàng hoá và chất liệu nguy hiểm, bao gồm bảo vệ thích đáng cho nhân viên, thông gió thích hợp cho các nhà máy, và thời gian nghỉ ngơi phù hợp là thường lệ.         Ngoài ra, một hệ thống kiểm soát và cân đối toàn diện bảo vệ quyền lợi của nhân viên về giờ làm việc, ngày nghỉ và ngày phép, và đại diện thông qua công đoàn. TCL còn ủng hộ một mạng lưới bao quát các hỗ trợ xã hội như nhà ở và nhà tập thể có trợ cấp, hoạt động thể thao, du lịch và nghỉ phép, bảo hiểm y tế, và trường hợp mất người thân.

PHẦN KẾT LUẬN

Qua quá trình phân tích ở trên chúng ta thấy rằng, TCL là một trong những công ty hàng đầu trong ngành điện tử, kinh doanh đa lĩnh vực và đa quốc gia. Với hệ thống cơ sở hạ tầng, mạng lưới sản xuất, phân phối trên toàn cầu. TCL đã cam kết sẽ đem lại những giá trị thiết thực cho các bên hữu quan của nó và cho toàn xã hội. Tham gia hoạt động kinh doanh trong một ngành năng động, cạnh tranh gay gắt, người mua có năng lực thương lượng cao, để thành công TCL đã tạo dựng cho mình những năng lực cốt lõi nhất định.

Trong môi trường luôn luôn thay đổi như hiện nay, TCL luôn chú trọng tới các công tác như R&D, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như đáp ứng và hỗ trợ khách hàng. Điều đó giúp công ty luôn giữ được vị thế của mình trên thị trường, gia tăng doanh thu và thị phần.

                 Hiện nay, trong chiến lược công ty của mình, TCL đang thực hiện hội nhập dọc và mua lại,. Việc theo đuổi chiến lược này làm gia tăng vị thế  cạnh tranh nhờ sự gia tăng thị phần của công ty trên thị trường. Đồng thời giảm được những rũi ro bằng cách đa dạng hóa kinh doanh nhiều loại sản phẩm-dịch vụ. Với chiến lược toàn cầu công ty đang hướng tới toàn cầu hóa về sản phẩm mà nó cung cấp, giảm chi phí…

CÁC NGUỒN THAM KHẢO:

  • http://www.sagesoftware.com/bestsection3/06403_ConsumerElecWP.pdf.
  • http://translate.google.com/translate?hl=en&langpair=fr%7Cvi&u=http://www.thomsontv.fr/thomson-tcl/groupe-multimedia/.
  • http://translate.google.com/translate?hl=en&langpair=en%7Cvi&u=http://lighting.tcl.com/led/history.html.
  • http://translate.google.com/translate?hl=en&langpair=fr%7Cvi&u=http://www.cctv.com/program/journaldeleconomie/20061222/102790.shtml
  • www.tcl.com.
  • www.tclvn.com.
  • http://www.hi138.com/e/?i194383.
  • http://gz2010.tcl.com/EnglishSite/Index.aspx
  • www.tcl.com/main_en/
  • http://www.tcl.com/en.php/News/letter.html?PHPSESSID=ac20b860ecc5cc9227
  • http://www.chinacsrmap.org/E_OrgShow.asp?CCMOrg_ID=1361
  • Bài tập Samsung nhóm 5 ( 31k08).

Nhóm 05 lớp 06                                                           Trang image04.png

This student written piece of work is one of many that can be found in our University Degree Electronic Media Studies section.

(?)
Not the one? Search for your essay title...
  • Join over 1.2 million students every month
  • Accelerate your learning by 29%
  • Unlimited access from just £6.99 per month

Related University Degree Media Studies Skills and Knowledge Essays

See our best essays

Related University Degree Electronic Media Studies essays

  1. Why does all this copyright reform stuff matter, anyway? What's at stake? (Doctorow, 2008). ...

    So in essence there is now no way to shut down file sharing and copyright infringement without the regulation of the internet providers who are the last factor in the fight against copyright. In America they use the 'Fair Use' copyright policy and this gives a person limited uses of

  2. Nagoya, 2005 Aichi Expo

    For that reason, the beneficiary of this major event would be the people of Nagoya. Despite with all the positive features and outcome there were still unpleased people. Critics and environmentalists preferred to have a much cleaner environment to be in, rather to have more pollution in the area.

  1. ICT Report 3D

    However ATMs can only perform the transactions if they can interpret the credit/debit card. Most ATMs can read Switch or Visa cards but those in the United Kingdom may not be able to perform the transactions with the ATM cards of overseas banks.

  2. Campaigner for Digital Privacy Rights.

    information to Web sites, and only deal with reputable organizations that clearly state that personal information6: - will not be collected without consent; - will not be used for secondary purposes; - will be held in secure databases; and - will not be retained for unnecessarily long periods of time.

  1. Extensions in modes of communications have had a powerful determining effect on the course ...

    This explains why the select few people in the society, who had the control over the distribution of information, tended to be the people in power and revered the most. Consequently, with a few people controlling access to information, cultures tended to have uniform knowledge and social norms.

  2. Report To the Multiple Sclerosis Trust On Spritely Mobile Robot.

    Individual Report According to a study in Personal Management By Birkett 1988, there have been estimates that as many as 10% of the population may suffer from some form of long term serious physical or mental disability (1). The term disabled is a very diverse term as it describes a

  • Over 160,000 pieces
    of student written work
  • Annotated by
    experienced teachers
  • Ideas and feedback to
    improve your own work